Đột phá tư duy quản trị vốn và khơi thông nguồn lực đầu tư
Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 29/NQ-CP ngày 24/2/2026 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị, các đề xuất về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế nhà nước do Bộ Tài chính chủ trì soạn thảo đang thu hút sự quan tâm lớn từ dư luận. Điểm nhấn quan trọng nhất trong Chương trình hành động lần này chính là sự thay đổi căn bản trong tư duy quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Thay vì can thiệp sâu vào hoạt động điều hành tác nghiệp hằng ngày, Nhà nước tập trung vào vai trò chủ sở hữu đầu tư vốn. Cơ chế mới hướng tới việc tách bạch rõ ràng giữa quyền sở hữu, quyền quản trị kinh doanh của doanh nghiệp.
Sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 29/NQ-CP cùng các chính sách mới được kỳ vọng sẽ tạo ra bước ngoặt lớn trong việc tách bạch quyền sở hữu và quản trị tại doanh nghiệp.
Một trong những nút thắt lớn nhất bấy lâu nay là quy trình phê duyệt các dự án đầu tư vốn nhà nước thường kéo dài, qua nhiều tầng nấc trung gian. Chương trình hành động của Chính phủ đã xác định việc đẩy mạnh phân cấp cho hội đồng thành viên các tập đoàn, tổng công ty trong việc quyết định các danh mục đầu tư trọng điểm. Điều này giúp doanh nghiệp chớp thời cơ thị trường, giảm thiểu chi phí cơ hội phát sinh do chờ đợi thủ tục hành chính.
Thêm vào đó, việc đánh giá hiệu quả đầu tư sẽ được thực hiện trên tổng thể danh mục thay vì soi xét từng dự án đơn lẻ. Cách tiếp cận này giúp các nhà quản lý doanh nghiệp tự tin hơn khi thực hiện các dự án nghiên cứu phát triển (R&D) mang tính rủi ro cao nhưng có tiềm năng tạo đột phá công nghệ.

Về vấn đề này, ông Đặng Quyết Tiến, nguyên Cục trưởng Cục Tài chính doanh nghiệp (Bộ Tài chính) cho rằng, việc cải cách thể chế phải bắt đầu từ việc giải phóng tư duy cho người lãnh đạo doanh nghiệp. Nếu cứ áp dụng cơ chế "sai đâu sửa đấy" theo kiểu cắt khúc dự án, doanh nghiệp sẽ không bao giờ dám đầu tư vào những lĩnh vực mới, khó, mang tính dẫn dắt. Cơ chế đặc thù cần tạo ra một "khoảng không" an toàn để các tập đoàn nhà nước thử nghiệm những mô hình kinh doanh mới, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế xanh, chuyển đổi số. Đây cũng là tinh thần cốt lõi mà Nghị quyết 79-NQ/TW hướng tới nhằm xây dựng một thế hệ doanh nghiệp nhà nước năng động, hiệu quả.
Bên cạnh đó, Chương trình hành động cũng đề ra việc hoàn thiện cơ chế tiền lương, thưởng linh hoạt hơn đối với các vị trí quản lý cấp cao, chuyên gia đầu ngành. Việc áp dụng mức thu nhập tiệm cận với thị trường quốc tế sẽ giúp các doanh nghiệp nhà nước thu hút được nhân tài thực thụ về cống hiến. Thay vì cào bằng theo thang bảng lương hành chính, cơ cấu thu nhập sẽ gắn liền với hiệu quả kinh doanh, giá trị gia tăng mà doanh nghiệp tạo ra cho ngân sách quốc gia. Sự thay đổi này được kỳ vọng sẽ tạo ra bước ngoặt trong việc nâng cao chất lượng quản trị tại các tập đoàn, tổng công ty lớn, giúp họ đủ sức cạnh tranh sòng phẳng trên sân chơi toàn cầu.
Định vị vai trò nòng cốt và xây dựng hành lang pháp lý an toàn
Trao đổi với báo giới xung quanh vấn đề này, GS.TS Hoàng Văn Cường, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân nhấn mạnh về việc định vị lại vai trò của doanh nghiệp nhà nước. Theo ông Cường, Nhà nước không nên dàn trải nguồn lực ra quá nhiều ngành nghề mà cần tập trung vào các lĩnh vực then chốt, những nơi khu vực tư nhân chưa thể hoặc không muốn đầu tư do vốn lớn, rủi ro cao. Các cơ chế đặc biệt cần được thiết kế để hỗ trợ những "con chim đầu đàn" này thực hiện các sứ mệnh quốc gia như phát triển hạ tầng năng lượng, viễn thông, công nghiệp bán dẫn, các ngành công nghệ cao khác.
Bên cạnh đó, việc giao nhiệm vụ cho doanh nghiệp nhà nước phải đi kèm với việc cấp nguồn lực tương xứng. Nhà nước có thể cân nhắc việc bổ sung vốn điều lệ từ nguồn lợi nhuận sau thuế của chính doanh nghiệp hoặc từ các quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp. Điều này giúp doanh nghiệp có đủ tiềm lực tài chính để thực hiện các thương vụ mua bán sáp nhập quốc tế hoặc đầu tư vào các dây chuyền sản xuất hiện đại. Tuy nhiên, đi kèm với quyền lợi đặc thù là trách nhiệm giải trình, tính minh bạch thông tin ở mức cao nhất. Mỗi đồng vốn bỏ ra phải được định lượng bằng hiệu quả kinh tế xã hội, mức độ đóng góp vào sự tự chủ của nền kinh tế quốc gia.

Dưới góc độ doanh nghiệp, đại diện một tập đoàn năng lượng chia sẻ rằng, khó khăn nhất hiện nay là việc xác định ranh giới giữa rủi ro kinh doanh, việc gây thất thoát tài sản nhà nước. Các doanh nghiệp mong muốn việc cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết 29/NQ-CP sẽ có những quy định cụ thể về "miễn trừ trách nhiệm" đối với những trường hợp rủi ro bất khả kháng hoặc rủi ro trong quá trình thử nghiệm sáng tạo. Nếu không có hành lang pháp lý bảo vệ người dám nghĩ dám làm, các cơ chế đặc thù dù tốt đến đâu cũng khó đi vào thực tiễn vì tâm lý e ngại sai phạm luôn thường trực. Doanh nghiệp cần một môi trường pháp lý đủ rộng để vươn tầm nhưng cũng đủ rõ ràng để bảo vệ những nỗ lực chân chính.
Còn theo các chuyên gia kinh tế, các cơ chế đặc thù cần khuyến khích doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò là "hạt nhân", tạo ra thị trường đầu ra, sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật cho cộng đồng doanh nghiệp nhỏ, vừa. Sự kết nối này không chỉ giúp kinh tế nhà nước phát triển bền vững mà còn nâng tầm toàn bộ sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế dân tộc.
Nhìn rộng ra, việc xây dựng Nghị quyết về cơ chế đặc biệt cho kinh tế nhà nước là một bước đi tất yếu trong tiến trình hiện đại hóa nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các số liệu thực tế từ Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy, khu vực này vẫn đóng góp đáng kể vào tăng trưởng GDP, ngân sách. Với sự quyết liệt của Bộ Chính trị thông qua Nghị quyết 79-NQ/TW, sự khẩn trương của Chính phủ thông qua Chương trình hành động vừa ban hành và nỗ lực của Bộ Tài chính trong việc hoàn thiện thể chế, chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng vào một giai đoạn hoàng kim mới của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Đó sẽ là những doanh nghiệp không chỉ mạnh về vốn mà còn dẫn đầu về công nghệ, quản trị, góp phần đưa Việt Nam vững bước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa năm 2026.
Khi các nguồn lực được giải phóng, kinh tế nhà nước sẽ phát huy tối đa vai trò chủ đạo, bảo đảm ổn định vĩ mô, đồng thời tạo không gian phát triển cho mọi thành phần kinh tế khác. Đây là trách nhiệm lớn lao nhưng cũng là cơ hội lịch sử để khu vực kinh tế nhà nước tự làm mới mình, khẳng định vị thế nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.
Theo báo cáo tổng kết mới nhất từ Cục Thống kê (Bộ Tài chính), khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tiếp tục khẳng định vai trò nòng cốt với những chỉ số ấn tượng. Khối này đóng góp xấp xỉ 28% GDP quốc gia, giữ vững vị thế chủ đạo trong các ngành hạ tầng năng lượng, viễn thông, công nghiệp bán dẫn. Tổng vốn chủ sở hữu tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đạt mức tăng trưởng 7,5% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh hiệu quả từ việc chuyển đổi sang mô hình quản trị danh mục đầu tư hiện đại.
Đáng chú ý, tỷ trọng đầu tư cho nghiên cứu phát triển (R&D) trong lĩnh vực kinh tế xanh và chuyển đổi số chiếm tới 15% tổng vốn đầu tư mới, nhờ cơ chế "khoảng không an toàn" được Bộ Tài chính thúc đẩy. Hiệu suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) trung bình của các doanh nghiệp dẫn đầu đạt mức 12%, minh chứng cho sự bứt phá sau khi áp dụng cơ chế lương thưởng linh hoạt cùng phân cấp mạnh mẽ trong quản trị. Những con số này không chỉ thể hiện sức mạnh tài chính mà còn cho thấy khả năng dẫn dắt, tạo ra thị trường đầu ra ổn định cho cộng đồng doanh nghiệp nhỏ, vừa trong chuỗi cung ứng quốc gia.
Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.