Diện mạo Điện ảnh Việt Nam 40 năm Đổi mới: Một hành trình song hành cùng thời đại

VTV.vn - 40 năm là 4 thập kỷ mà ở mỗi thập kỷ ấy điện ảnh đều mang những dấu ấn và thay đổi khác nhau.

Năm 2026 đánh dấu 40 năm công cuộc Đổi mới từ sau Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI, tháng 12/1986 – một bước ngoặt lịch sử đã tác động sâu sắc đến chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước Việt Nam. Song hành với đó là 40 năm điện ảnh Việt Nam không ngừng vận động và phát triển. 40 năm là 4 thập kỷ mà ở mỗi thập kỷ ấy điện ảnh đều mang những dấu ấn và thay đổi khác nhau.

Bốn thập kỷ đầy dấu ấn

Tại Liên hoan phim châu Á Đà Nẵng 2026 - DANAFF IV, chương trình "Diện mạo Điện ảnh Việt Nam 40 năm Đổi Mới" được xây dựng với mong muốn mang đến những lát cắt sống động, qua đó phần nào giúp khán giả hình dung hành trình phát triển của điện ảnh Việt Nam qua bốn thập kỷ; Hiểu sâu hơn về các phong cách sáng tác và ngôn ngữ điện ảnh của thế hệ trước thông qua tuyển chọn 17 tác phẩm tiêu biểu gắn liền với các nhà làm phim, nghệ sĩ tên tuổi của thời kỳ này; Tiếp cận những bộ phim chưa từng được công chiếu rộng rãi, những tác phẩm mới, mang đến trải nghiệm đa dạng và nhiều lựa chọn trong mùa Liên hoan phim năm nay.

Từ giữa thập niên 1980, điện ảnh Việt Nam bắt đầu xuất hiện những chuyển động đáng chú ý trong tư duy sáng tạo. Một số phim truyện đã bước đầu rời khỏi lối tiếp cận minh họa hiện thực quen thuộc, chuyển sang cách nhìn giàu tính phát hiện hơn, chú ý đến những biến đổi trong đời sống xã hội và tâm thế con người thời kỳ chuyển đổi.

Diện mạo Điện ảnh Việt Nam 40 năm Đổi mới: Một hành trình song hành cùng thời đại - Ảnh 1.

Sự đổi mới này không diễn ra đột ngột, mà biểu hiện qua những thử nghiệm ban đầu về giọng điệu và cấu trúc tự sự. Các phim như Thị trấn yên tĩnh (1986), Thằng Bờm (1987) cho thấy nỗ lực làm mới thể loại hài, từ chỗ thiên về minh họa sang gợi mở những sắc thái châm biếm xã hội. Đáng chú ý hơn, Tướng về hưu (1988), Gánh xiếc rong (1988) đã trực diện đặt ra những vấn đề gai góc của đời sống đương thời, qua đó tạo nên các tranh luận học thuật về giới hạn phản ánh và trách nhiệm xã hội của điện ảnh.

Bước sang giai đoạn chuyển đổi cơ chế, điện ảnh Việt Nam đối mặt với nhiều khó khăn mang tính cấu trúc khi hệ thống bao cấp chấm dứt. Sự thiếu hụt về nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất và hệ thống phát hành khiến hoạt động sản xuất phim rơi vào tình trạng thu hẹp. Tuy nhiên, từ giữa thập niên 1990, với các chủ trương chấn hưng, điện ảnh dần ổn định trở lại. Điều kiện sản xuất được cải thiện, hệ thống rạp từng bước được khôi phục, tạo tiền đề cho những tìm kiếm mới về mô hình phát triển.

Diện mạo Điện ảnh Việt Nam 40 năm Đổi mới: Một hành trình song hành cùng thời đại - Ảnh 2.

Trong bối cảnh đó, xu hướng hướng tới khán giả ngày càng rõ nét, kéo theo sự hình thành của một dòng phim giàu tính giải trí nhưng vẫn giữ được những yếu tố thẩm mỹ nhất định. Vị đắng tình yêu (1990) có thể xem như một trường hợp tiêu biểu, khi dung hòa được yếu tố hấp dẫn của đề tài đời sống sinh viên với cách kể chuyện tương đối tiết chế, gần gũi. Song song với đó, các tác phẩm khai thác đời sống nông thôn như Thung lũng hoang vắng (2001) góp phần duy trì mạch quan tâm đến những không gian và thân phận ít được chú ý trong quá trình đô thị hóa.

Đầu những năm 2000 đánh dấu bước chuyển quan trọng với sự tham gia ngày càng rõ của khu vực tư nhân. Sự xuất hiện của Gái nhảy (2002) cho thấy tiềm năng thị trường của điện ảnh nội địa, đồng thời đặt ra những vấn đề mới về thị hiếu và định hướng thẩm mỹ. Bên cạnh đó, các phim như Hãy tha thứ cho em (1992), Lưới trời (2002) tiếp tục mở rộng biên độ phản ánh, cho thấy nỗ lực tiếp cận trực tiếp hơn với các vấn đề xã hội trong bối cảnh đổi thay.

Từ giữa thập niên 2000 trở đi, diện mạo điện ảnh Việt Nam trở nên đa dạng hơn về thể loại và khuynh hướng sáng tác. Các phim như Mùa len trâu (2004), Thời xa vắng (2004), Dòng máu anh hùng (2006), Chơi vơi (2009) cho thấy những tìm tòi khác nhau về ngôn ngữ điện ảnh, từ việc tái hiện không gian văn hóa, lịch sử đến khám phá đời sống nội tâm cá nhân. Ở đây, dấu ấn tác giả bắt đầu được xác lập rõ hơn, đồng thời mở rộng khả năng biểu đạt của điện ảnh trong tương quan với các xu hướng khu vực và quốc tế.

Diện mạo Điện ảnh Việt Nam 40 năm Đổi mới: Một hành trình song hành cùng thời đại - Ảnh 3.
Diện mạo Điện ảnh Việt Nam 40 năm Đổi mới: Một hành trình song hành cùng thời đại - Ảnh 4.

Những năm sau đó ghi nhận sự xuất hiện của các tác phẩm có khả năng dung hòa giữa yếu tố nghệ thuật và tiếp cận công chúng như Cánh đồng bất tận (2010). Đồng thời, một dòng phim mang tính cá nhân rõ nét hơn tiếp tục phát triển qua các tác phẩm như Bi, đừng sợ! (2010), Đập cánh giữa không trung (2014), hay Đảo của dân ngụ cư (2017). Các bộ phim này không chỉ mở rộng giới hạn biểu đạt mà còn từng bước đưa điện ảnh Việt Nam tham gia sâu hơn vào hệ thống liên hoan phim quốc tế, qua đó khẳng định một hướng đi dựa trên bản sắc và tiếng nói riêng của nhà làm phim.

Diện mạo Điện ảnh Việt Nam 40 năm Đổi mới: Một hành trình song hành cùng thời đại - Ảnh 5.

Từ những bộ phim mang đậm dấu ấn hiện thực thời kỳ đầu Đổi mới cho đến những thử nghiệm bứt phá về ngôn ngữ điện ảnh sau này, tất cả đã tạo nên một bức tranh đa sắc. Di sản điện ảnh trong 40 năm qua không chỉ là tài sản tinh thần mà còn là nền tảng để xây dựng tương lai. Đánh giá về giá trị của những kho tàng này, TS Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển điện ảnh Việt Nam (VFDA) đã khẳng định: "Di sản điện ảnh là đất vàng, là kim cương mà chúng ta phải có giải pháp để phát huy giá trị".

Sự trỗi dậy của những "cơn sóng" ngàn tỷ: Khi bản sắc là kim chỉ nam

Nhìn vào thực tại của thị trường điện ảnh Việt Nam năm 2025 và những tháng đầu năm 2026, chúng ta thấy một diện mạo ấn tượng: sôi động, quyết liệt và bùng nổ về doanh thu. Năm 2025 ghi dấu kỷ lục khi tổng doanh thu phim nội địa đạt gần 3.000 tỷ đồng. Trong đó, chỉ riêng 10 bộ phim đứng đầu danh sách đã đóng góp tới 2.771 tỷ đồng. Những cái tên như Mưa đỏ, Tử chiến trên không, Thám tử Kiên: Kỳ án không đầu đã trở thành hiện tượng phòng vé, tạo nên một "cơn sóng" niềm tin cho các nhà đầu tư và khán giả. Theo báo cáo từ thị trường, doanh thu trung bình cho mỗi bộ phim Việt trong giai đoạn 2023-2025 đã tăng gấp 3,8 lần so với thời kỳ trước đại dịch COVID-19.

Bước sang năm 2026, con số 100 tỷ đồng không còn là "giấc mơ" xa vời mà đã trở thành thước đo phổ biến cho sự thành công thương mại của phim nội. Thị trường đang chứng kiến một cuộc đua đa thể loại, từ tâm lý xã hội, hành trình lịch sử đến những phim thám tử kịch tính. Sự đa dạng này cho thấy năng lực sản xuất của điện ảnh Việt đang dần hoàn thiện.

Diện mạo Điện ảnh Việt Nam 40 năm Đổi mới: Một hành trình song hành cùng thời đại - Ảnh 6.

Tuy nhiên, sự phát triển này cũng bộc lộ những khoảng lặng. Bên cạnh những "đỉnh cao" về doanh thu là những "vực sâu" về chất lượng ở một bộ phận phim rác. Khán giả không còn dễ dàng chấp nhận những kịch bản rời rạc, lạm dụng yếu tố giật gân rẻ tiền. "Khán giả ngày nay có nhiều cơ hội tiếp cận với điện ảnh thế giới hơn, nên cách tiếp nhận cũng khác. Những gì từng bị xem là khó có thể không còn xa lạ. Tuy nhiên, họ cũng có xu hướng muốn tiếp cận nhanh hơn, trực tiếp hơn, ít kiên nhẫn với những bộ phim đòi hỏi nhiều suy nghĩ. Điều này ảnh hưởng đến cách các nhà làm phim lựa chọn con đường của mình. Câu hỏi đặt ra là điện ảnh nên thích nghi hay giữ lại chiều sâu - và có lẽ điều quan trọng là tìm được sự cân bằng", đạo diễn Phan Đăng Di chia sẻ.

Để điện ảnh Việt Nam thực sự trở thành một ngành công nghiệp "tỷ đô" và là cầu nối văn hóa hiệu quả, nhiều chuyên gia cho rằng cần có sự chung tay của cả Nhà nước và các doanh nghiệp tư nhân. Việc xây dựng một hệ sinh thái điện ảnh lành mạnh, từ khâu đào tạo nhân lực, sản xuất, phát hành cho đến bảo tồn di sản là yêu cầu cấp thiết.

Diện mạo Điện ảnh Việt Nam 40 năm Đổi mới: Một hành trình song hành cùng thời đại - Ảnh 7.

TS Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển điện ảnh Việt Nam (VFDA)

Trong lộ trình đó, bản sắc được xác định là giá trị cốt lõi. Một nền công nghiệp điện ảnh chỉ có thể đi xa khi nó có sự khác biệt và mang được tâm hồn của quốc gia đó ra thế giới. Đạo diễn Victor Vũ đã chia sẻ một góc nhìn đầy thực tiễn: "Mọi thứ có thể thay đổi nhưng những gì thuộc về chất riêng của dân tộc, những giá trị văn hóa truyền thống sẽ luôn bền vững theo thời gian. Một tác phẩm càng hiện đại, càng muốn đi xa thì càng phải bám vào bản sắc của dân tộc mình".

Chiến lược phát triển điện ảnh Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 xác định phát triển điện ảnh theo hướng công nghiệp, hiện đại và hội nhập quốc tế, với mục tiêu đến năm 2030 xây dựng nền điện ảnh Việt Nam có bản sắc và uy tín ở châu Á, có tác phẩm chất lượng cao, tài năng điện ảnh tầm cỡ thế giới. Điều này cũng phù hợp và đúng định hướng với những nội dung và giá trị mà Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 đã đặt ra với những nguyên tắc cơ bản: Dân tộc, khoa học và đại chúng.

Theo Tiến sĩ Ngô Phương Lan, Chủ tịch Hiệp hội xúc tiến phát triển điện ảnh Việt Nam, trong thời đại công nghệ 4.0, xây dựng nền điện ảnh mang tính hiện đại có ý nghĩa thiết thực và cập nhật đối với sự nghiệp chung của dân tộc. Điều đó có nghĩa là điện ảnh phải xây dựng cho mình một "thương hiệu" riêng và thương hiệu ấy trước hết phải gắn liền với bản sắc văn hóa dân tộc. Bên cạnh đó, bà Ngô Phương Lan cũng khẳng định để ra biển lớn, điện ảnh Việt Nam cần chắt chiu, tìm kiếm, bồi dưỡng, ươm mầm các tài năng trẻ.

Diện mạo Điện ảnh Việt Nam 40 năm Đổi mới: Một hành trình song hành cùng thời đại - Ảnh 8.

Đạo diễn Phan Đăng Di

"Tôi nghĩ vấn đề lý do điện ảnh Việt Nam chưa bắt kịp thế giới nằm ở nền tảng. Chúng ta có thị trường, có khán giả, nhưng chưa có một hệ sinh thái đủ vững để nuôi dưỡng những dự án dài hơi. Điện ảnh không chỉ là những bộ phim thành công về doanh thu, mà là cả một quá trình phía sau. Những hoạt động như tại DANAFF, nơi không chỉ có trình chiếu mà còn có các chương trình như Script Lab, kết nối các nhà làm phim với chuyên gia quốc tế, theo tôi là rất quan trọng. Những nền tảng như vậy giúp tạo ra một môi trường để các ý tưởng được phát triển một cách bài bản, giúp điện ảnh không chỉ phát triển về số lượng, mà còn về chiều sâu và khả năng hội nhập", đạo diễn Phan Đăng Di chia sẻ.

Hành trình 40 năm Đổi mới đã trôi qua với những thành tựu đáng tự hào. Từ những bộ phim đen trắng đến những tác phẩm nghìn tỷ, điện ảnh Việt đang dần khẳng định được vị thế của mình. Với nền tảng từ những di sản "đất vàng", sự bùng nổ của thị trường hiện tại và ý thức sâu sắc về bản sắc dân tộc, chúng ta hoàn toàn có quyền kỳ vọng vào một tương lai rạng rỡ, nơi điện ảnh không chỉ là món ăn tinh thần mà còn là niềm tự hào của văn hóa Việt Nam trên bản đồ thế giới. 

Diện mạo Điện ảnh Việt Nam 40 năm Đổi mới: Một hành trình song hành cùng thời đại - Ảnh 9.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội

"Chúng ta đã có những bộ phim, những bài hát, những sản phẩm thời trang của người Việt Nam, cho người Việt Nam và vì người Việt Nam. Không những thế, nó còn lan tỏa sức mạnh ra toàn thế giới. Điều này chứng minh rằng chúng ta đã một phần nào đó có sự tự tin hơn trong mặt trận văn hóa của chính chúng ta. Các sản phẩm của chúng ta đang dần dần chiếm lĩnh thị trường thế giới. Cũng là cách mà chúng ta thấy được rằng các sản phẩm Việt Nam không chỉ là chinh phục trái tim người dân ở trong nước mà bắt đầu hướng ra thế giới, hướng đến khán giả toàn cầu. Chúng ta hoàn toàn có thể tự hào về sự phát triển của công nghiệp văn hóa Việt Nam", PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội cho biết.

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bình luận không đăng nhập

Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.