Khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đang từng bước được đưa vào các khâu sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản tại Ninh Bình. Ảnh: QT
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 71/NQ-CP của Chính phủ đã xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước. Đối với Ninh Bình, việc cụ thể hóa các chủ trương này trong lĩnh vực nông nghiệp không chỉ hướng tới đổi mới phương thức sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng nông sản mà còn tạo nền tảng hình thành nền nông nghiệp sinh thái, hiện đại, có khả năng cạnh tranh cao.

Ứng dụng công nghệ trong nuôi trồng thủy sản mang lại giá trị kinh tế cao tại Ninh Bình. Ảnh: BNB
Từ những mô hình chăn nuôi thông minh, sản xuất lúa giảm phát thải đến ứng dụng công nghệ trong nuôi trồng thủy sản, chế biến và truy xuất nguồn gốc, ngành Nông nghiệp và Môi trường Ninh Bình đang từng bước đưa khoa học, công nghệ vào thực tiễn. Phóng viên Thời báo VTV có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Sinh Tiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình, về những kết quả bước đầu, định hướng và giải pháp đột phá trong thời gian tới.

Ông Nguyễn Sinh Tiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình, trao đổi về định hướng ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong nông nghiệp. Ảnh: Dương Duy
Phóng viên: Thưa ông, việc ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành động lực quan trọng để phát triển nông nghiệp hiện đại. Tỉnh Ninh Bình xác định mục tiêu và những định hướng trọng tâm nào trong lĩnh vực này nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 71/NQ-CP của Chính phủ?
Ông Nguyễn Sinh Tiến: Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, tạo động lực thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững. Trên cơ sở đó, tỉnh Ninh Bình đã ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 30/1/2026 về chiến lược đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; đồng thời ban hành các kế hoạch triển khai thực hiện, bảo đảm các mục tiêu của Trung ương được cụ thể hóa thành nhiệm vụ phù hợp với điều kiện thực tiễn địa phương.
Riêng trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, chúng tôi xác định khoa học, công nghệ không chỉ là công cụ hỗ trợ sản xuất mà phải trở thành động lực trực tiếp nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và hiệu quả sử dụng tài nguyên. Điều quan trọng là chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp đơn thuần sang tư duy kinh tế nông nghiệp, lấy hiệu quả, chất lượng, thị trường và tính bền vững làm thước đo.

Cơ giới hóa trong sản xuất lúa góp phần nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí và thúc đẩy phát triển nông nghiệp hiện đại. Ảnh: QT
Theo định hướng của tỉnh, đến năm 2030, mỗi năm phấn đấu có ít nhất 50 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh; đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt trên 57%. Trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, Kế hoạch số 5705 đặt mục tiêu tỷ lệ kết quả nghiên cứu được ứng dụng sau 12 tháng nghiệm thu đạt từ 70% trở lên. Đây là những chỉ tiêu quan trọng nhằm khắc phục tình trạng một số kết quả nghiên cứu chưa được chuyển giao, ứng dụng hiệu quả vào sản xuất.
Trên cơ sở Đề án cơ cấu lại ngành nông nghiệp tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2026-2030, chúng tôi tập trung vào ba định hướng trọng tâm.
Thứ nhất, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh, từng bước hình thành từ một đến hai vùng nông nghiệp công nghệ cao quy mô lớn. Trong đó, ưu tiên ứng dụng công nghệ tự động hóa, cảm biến, hệ thống giám sát và quản lý sản xuất dựa trên dữ liệu; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào các khâu có khả năng tạo giá trị gia tăng cao.
Thứ hai, xây dựng hệ sinh thái số ngành nông nghiệp, từng bước hình thành cơ sở dữ liệu chuyên ngành, bản đồ số về vùng sản xuất, cơ sở chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản; triển khai truy xuất nguồn gốc điện tử và kết nối dữ liệu phục vụ quản lý, điều hành. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, liên thông, cơ quan quản lý có thể nắm bắt chính xác hơn tình hình sản xuất, dự báo thị trường, kiểm soát dịch bệnh và hỗ trợ người dân kịp thời.
Thứ ba, phát triển nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn, giảm phát thải, thích ứng với biến đổi khí hậu. Chúng tôi chú trọng sử dụng tiết kiệm tài nguyên đất, nước; giảm vật tư đầu vào không cần thiết; tận dụng phụ phẩm trong trồng trọt, chăn nuôi và chế biến để tạo ra các sản phẩm có giá trị.
Đến năm 2030, tỉnh đặt mục tiêu giá trị sản phẩm trên một héc-ta đất trồng trọt và mặt nước nuôi trồng thủy sản đạt từ 220 triệu đồng trở lên. Đây không chỉ là mục tiêu về kinh tế mà còn thể hiện yêu cầu nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên, tổ chức lại sản xuất và cải thiện thu nhập cho người dân nông thôn.
Phóng viên: Sau khi triển khai các chủ trương, nghị quyết về phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, ngành Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình đã đạt được những kết quả nổi bật nào trong ứng dụng công nghệ cao vào trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và chế biến nông sản? Xin ông chia sẻ một số mô hình tiêu biểu cùng hiệu quả thực tế mang lại.
Ông Nguyễn Sinh Tiến: Có thể khẳng định, ứng dụng khoa học, công nghệ trong nông nghiệp của Ninh Bình đã có những chuyển biến tích cực. Từ trồng trọt, chăn nuôi đến nuôi trồng thủy sản và chế biến nông sản, nhiều mô hình đã được triển khai, bước đầu chứng minh hiệu quả về năng suất, chất lượng, tiết kiệm chi phí và giảm tác động đến môi trường.
Trong trồng trọt, mô hình sản xuất lúa chất lượng cao gắn với tiết kiệm nước, giảm phát thải là một trong những hướng đi nổi bật. Đến vụ Xuân năm 2026, diện tích canh tác lúa giảm phát thải trên địa bàn tỉnh đã mở rộng lên hơn 8.800 ha tại 21 xã. Người dân áp dụng phương pháp tưới ướt - khô xen kẽ, quản lý nước hợp lý, kết hợp cơ giới hóa và các quy trình canh tác tiên tiến. Qua đánh giá thực tế, phương pháp này giúp giảm lượng nước tưới, tiết kiệm chi phí bơm nước, hạn chế phát thải khí nhà kính, đồng thời duy trì và nâng cao năng suất lúa.

Mô hình canh tác lúa giảm phát thải được triển khai tại Ninh Bình, góp phần tiết kiệm nước tưới, giảm chi phí sản xuất và bảo vệ môi trường. Ảnh: QT
Đáng chú ý, trong mô hình sản xuất lúa hữu cơ tại Kim Sơn, hiệu quả kinh tế cao hơn khoảng 23% so với phương thức sản xuất đại trà. Điều đó cho thấy việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, thay đổi quy trình sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm có thể mang lại lợi ích thiết thực cho người nông dân.
Trong lĩnh vực chăn nuôi, mô hình chăn nuôi lợn thông minh tại Trạm Nghiên cứu và Phát triển giống lợn hạt nhân Tam Điệp là một ví dụ tiêu biểu. Hệ thống công nghệ IoT được ứng dụng để giám sát các thông số môi trường chuồng nuôi như nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió; đồng thời hỗ trợ theo dõi đàn vật nuôi liên tục 24/7 từ xa. Các khâu cung cấp thức ăn, nước uống và kiểm soát môi trường được tự động hóa, góp phần giảm sức lao động, hạn chế tác động bất lợi từ môi trường và nâng cao hiệu quả quản lý đàn.
Đặc biệt, quy trình xử lý chất thải được tích hợp trong hệ thống vận hành, hướng tới chăn nuôi an toàn sinh học, giảm nguy cơ ô nhiễm môi trường. Theo năng lực thiết kế, cơ sở có khả năng cung ứng khoảng 18.000-20.000 con lợn thương phẩm mỗi năm. Đây là mô hình có ý nghĩa thực tiễn trong việc nghiên cứu, lựa chọn và chuyển giao các giải pháp công nghệ phù hợp cho những trang trại chăn nuôi quy mô lớn.

Ứng dụng công nghệ tự động hóa trong cung cấp thức ăn, nước uống, nâng cao hiệu quả quản lý và chăm sóc đàn vật nuôi. Ảnh: Dương Duy
Đối với nuôi trồng thủy sản, chuỗi sản xuất ngao ở khu vực ven biển đang từng bước ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất giống, quản lý vùng nuôi, thu hoạch, sơ chế và chế biến. Toàn tỉnh hiện có khoảng 3.415 ha nuôi ngao. Năm 2025, sản lượng ngao giống sản xuất trong tỉnh đạt hơn 119 tỷ con, góp phần chủ động nguồn giống phục vụ nuôi thương phẩm và cung cấp cho các địa phương khác. Một số vùng nuôi, cơ sở sản xuất đã chú trọng kiểm soát chất lượng, quản lý môi trường và đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn của thị trường xuất khẩu.
Trong chế biến nông sản, Nhà máy sản xuất rau quả xuất khẩu của Công ty cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao tại phường Trung Sơn, Ninh Bình là một trong những cơ sở tiêu biểu. Nhà máy có công suất thiết kế khoảng 32.000 tấn sản phẩm mỗi năm, đầu tư dây chuyền chế biến, bảo quản và đóng gói hiện đại. Việc ứng dụng công nghệ chế biến sâu, trong đó có công nghệ bao bì giấy tiệt trùng đối với các dòng sản phẩm phù hợp, giúp kéo dài thời gian bảo quản từ 6-12 tháng, tạo thuận lợi cho vận chuyển, phân phối và mở rộng thị trường.

Dây chuyền chế biến rau quả xuất khẩu tại Nhà máy của Công ty cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao được đầu tư theo hướng hiện đại. Ảnh: ST
Những mô hình trên cho thấy, khoa học, công nghệ không chỉ giúp cải thiện một công đoạn riêng lẻ mà còn có khả năng thay đổi toàn bộ quy trình sản xuất. Từ khâu đầu vào, tổ chức sản xuất đến chế biến và tiêu thụ, nếu được ứng dụng đồng bộ, công nghệ sẽ góp phần nâng cao giá trị nông sản, tăng sức cạnh tranh và tạo nền tảng phát triển các chuỗi ngành hàng bền vững.
Phóng viên: Trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp đang chuyển từ tư duy sản xuất truyền thống sang kinh tế nông nghiệp, tỉnh Ninh Bình đã và đang ứng dụng những công nghệ nào như tự động hóa, cảm biến thông minh, dữ liệu số, trí tuệ nhân tạo và công nghệ sinh học để nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, tiết kiệm chi phí và thích ứng với biến đổi khí hậu?
Ông Nguyễn Sinh Tiến: Trước hết, cần nhìn nhận rằng mức độ ứng dụng công nghệ giữa các lĩnh vực, vùng sản xuất và nhóm chủ thể nông nghiệp hiện chưa đồng đều. Một số doanh nghiệp, trang trại quy mô lớn đã đầu tư công nghệ tương đối hiện đại, trong khi phần lớn hộ sản xuất nhỏ vẫn đang sử dụng phương thức truyền thống. Vì vậy, chúng tôi xác định việc ứng dụng công nghệ phải có lộ trình, lựa chọn đúng công nghệ, đúng đối tượng và phù hợp với khả năng đầu tư của người dân.
Hiện nay, công nghệ IoT và cảm biến thông minh đã được ứng dụng tại một số trang trại chăn nuôi, cơ sở sản xuất quy mô lớn và mô hình nông nghiệp công nghệ cao. Các thiết bị cảm biến có thể thu thập thông tin về nhiệt độ, độ ẩm, môi trường chuồng nuôi, môi trường nước; qua đó hỗ trợ người sản xuất theo dõi, điều chỉnh các điều kiện kỹ thuật kịp thời. Trong trồng trọt, nhà lưới, hệ thống tưới tự động, thiết bị điều khiển và giám sát môi trường cũng đang được áp dụng ở một số mô hình.

Hệ thống cảm biến IoT được ứng dụng tại Trạm Nghiên cứu và Phát triển giống lợn hạt nhân Tam Điệp, hỗ trợ giám sát môi trường chuồng nuôi từ xa. Ảnh: Dương Duy
Đối với dữ liệu số, ngành đang từng bước xây dựng, cập nhật và tích hợp dữ liệu về cơ sở sản xuất, vùng trồng, cơ sở chăn nuôi, tổng đàn vật nuôi và tình hình dịch bệnh. Đây là nền tảng quan trọng để chuyển từ phương thức quản lý chủ yếu dựa trên báo cáo thủ công sang quản lý dựa trên dữ liệu, tăng khả năng dự báo và đưa ra quyết định chính xác hơn.
Về trí tuệ nhân tạo, hiện nay công nghệ này chủ yếu đang ở giai đoạn nghiên cứu, thử nghiệm, chưa được ứng dụng phổ biến trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Định hướng của chúng tôi là từng bước nghiên cứu sử dụng AI kết hợp camera thông minh để hỗ trợ nhận diện dấu hiệu bất thường trên đàn vật nuôi, phát hiện sâu bệnh, phân tích dữ liệu môi trường và cảnh báo sớm các nguy cơ thiên tai, dịch bệnh. Trước khi nhân rộng, các mô hình cần được thử nghiệm, đánh giá đầy đủ về hiệu quả kỹ thuật, kinh tế và khả năng vận hành.
Đối với công nghệ sinh học, ngành khuyến khích ứng dụng chế phẩm sinh học, men vi sinh trong xử lý chất thải chăn nuôi, cải tạo môi trường nuôi trồng thủy sản, nâng cao chất lượng đất và giảm sử dụng hóa chất. Đồng thời, nghiên cứu sử dụng các giải pháp sinh học phù hợp nhằm giảm phụ thuộc vào kháng sinh trong chăn nuôi, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất phân bón hữu cơ và thức ăn chăn nuôi.
Có thể nói, mục tiêu của chúng tôi không phải đưa công nghệ hiện đại vào sản xuất bằng mọi giá, mà là lựa chọn giải pháp đem lại hiệu quả thực chất. Một hệ thống cảm biến chỉ có ý nghĩa khi giúp người dân giảm chi phí, kiểm soát tốt hơn môi trường sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Một nền tảng dữ liệu chỉ phát huy tác dụng khi thông tin được cập nhật thường xuyên, có khả năng kết nối và phục vụ trực tiếp cho hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh.
Phóng viên: Chuyển đổi số trong nông nghiệp không chỉ dừng lại ở khâu sản xuất mà còn bao gồm quản lý vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu và kết nối tiêu thụ sản phẩm. Ngành Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình đang triển khai những giải pháp gì để hỗ trợ nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số, phát triển sản phẩm OCOP, mở rộng thị trường trong nước và hướng tới xuất khẩu?
Ông Nguyễn Sinh Tiến: Chúng tôi xác định chuyển đổi số phải được triển khai xuyên suốt toàn bộ chuỗi giá trị nông sản, từ tổ chức vùng nguyên liệu, quản lý quy trình sản xuất, thu hoạch, sơ chế, chế biến đến phân phối và tiêu thụ. Nếu chỉ ứng dụng công nghệ ở khâu sản xuất mà không giải quyết được bài toán thị trường thì hiệu quả mang lại sẽ chưa đầy đủ.
Trước hết, ngành tập trung quản lý, cấp mã số vùng trồng, hỗ trợ xây dựng nhật ký sản xuất điện tử, áp dụng mã QR và mã vạch để truy xuất nguồn gốc. Đây là những công cụ giúp minh bạch thông tin về địa điểm sản xuất, quy trình canh tác, thời gian thu hoạch và chất lượng sản phẩm. Đến năm 2030, tỉnh phấn đấu 100% dữ liệu chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý của Sở được kết nối với nền tảng dùng chung của tỉnh; trên 80% hợp tác xã nông nghiệp ứng dụng nền tảng số trong quản lý sản xuất, tiêu thụ và truy xuất nguồn gốc.
Đối với các sản phẩm chủ lực và sản phẩm OCOP, chúng tôi chú trọng hỗ trợ chủ thể hoàn thiện tiêu chuẩn chất lượng, đăng ký nhãn hiệu, xây dựng thương hiệu, bao bì và hệ thống nhận diện sản phẩm. Đến nay, toàn tỉnh có hơn 1.000 sản phẩm OCOP, trong đó có 7 sản phẩm đạt 5 sao. Đây là nền tảng để tiếp tục nâng cao giá trị sản phẩm địa phương, gắn phát triển OCOP với ứng dụng công nghệ, đổi mới phương thức kinh doanh và mở rộng thị trường.

Sản phẩm gạo sạch chất lượng cao Toản Xuân 999 và gạo sinh thái ruộng rươi khẳng định thương hiệu gạo chất lượng cao của Ninh Bình. Ảnh: QT
Bên cạnh các kênh tiêu thụ truyền thống, ngành khuyến khích hợp tác xã, doanh nghiệp đưa sản phẩm lên các sàn thương mại điện tử, nền tảng bán hàng trực tuyến; tham gia các chương trình xúc tiến thương mại, hội chợ, kết nối cung cầu trong và ngoài tỉnh. Qua đó, người sản xuất có thêm cơ hội tiếp cận khách hàng, giảm phụ thuộc vào một số kênh phân phối và từng bước hình thành phương thức kinh doanh hiện đại.
Đối với thị trường xuất khẩu, yêu cầu đặt ra cao hơn, không chỉ là sản lượng mà còn là chất lượng đồng đều, tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và khả năng truy xuất nguồn gốc. Vì vậy, chúng tôi ưu tiên hỗ trợ các vùng sản xuất và doanh nghiệp hoàn thiện những điều kiện cần thiết, tăng cường liên kết giữa người sản xuất với đơn vị thu mua, chế biến và xuất khẩu.
Chúng tôi xác định doanh nghiệp và hợp tác xã phải trở thành những chủ thể quan trọng trong tổ chức chuỗi giá trị. Cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ về cơ chế, chính sách, tiêu chuẩn, dữ liệu và xúc tiến thương mại; còn người sản xuất cần tuân thủ quy trình, bảo đảm chất lượng và thực hiện nghiêm các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc. Khi các khâu được kết nối chặt chẽ, chuyển đổi số mới thực sự tạo ra giá trị gia tăng và giúp nông sản Ninh Bình nâng cao sức cạnh tranh.
Phóng viên: Thực tế cho thấy, việc ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong nông nghiệp vẫn gặp những khó khăn về nguồn vốn đầu tư, hạ tầng công nghệ, nguồn nhân lực và khả năng tiếp cận của nông dân, nhất là tại khu vực nông thôn. Sở Nông nghiệp và Môi trường có những giải pháp gì để tháo gỡ các điểm nghẽn này, đồng thời thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao?
Ông Nguyễn Sinh Tiến: Qua thực tiễn triển khai, chúng tôi nhận diện bốn nhóm khó khăn chủ yếu là nguồn vốn đầu tư, hạ tầng công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng tiếp cận, làm chủ công nghệ của người sản xuất.
Trước hết, về nguồn vốn, đầu tư cho nông nghiệp công nghệ cao thường đòi hỏi kinh phí ban đầu tương đối lớn, trong khi thời gian thu hồi vốn có thể kéo dài và phụ thuộc nhiều vào thị trường. Đối với các hộ nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp quy mô nhỏ, việc đầu tư đồng bộ hệ thống nhà màng, thiết bị cảm biến, tưới tự động, hệ thống giám sát và xử lý chất thải là một thách thức không nhỏ.
Năm 2026, Sở được bố trí khoảng 7,624 tỷ đồng cho các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Tuy nhiên, theo số liệu đến ngày 24/9, tỷ lệ giải ngân mới đạt khoảng 33,5%. Chúng tôi đang tập trung đôn đốc tiến độ thực hiện, tháo gỡ những khó khăn trong quá trình triển khai nhiệm vụ, đồng thời rà soát nhu cầu kinh phí để bảo đảm các hệ thống công nghệ sau đầu tư được duy trì, vận hành và nâng cấp thường xuyên. Đây là vấn đề rất quan trọng bởi đầu tư thiết bị mới chỉ là bước đầu; hiệu quả thực sự phụ thuộc vào khả năng khai thác, vận hành và cập nhật công nghệ trong suốt quá trình sử dụng.

Nguồn vốn hỗ trợ sản xuất được tập trung giải ngân, tạo điều kiện để người dân và hợp tác xã mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Ảnh: Dương Duy
Về hạ tầng, cần tiếp tục hoàn thiện hạ tầng số, bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất. Đặc biệt, tại các vùng sản xuất tập trung, vùng nuôi trồng thủy sản và khu vực nông thôn, việc bảo đảm điều kiện kết nối phục vụ giám sát, điều khiển thiết bị từ xa có ý nghĩa rất quan trọng.
Đối với nguồn nhân lực, chúng tôi xác định con người là yếu tố quyết định hiệu quả chuyển đổi số. Ngành sẽ phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức đào tạo, tập huấn kỹ năng số cho cán bộ chuyên môn ở cơ sở, cán bộ hợp tác xã, chủ trang trại và nông dân. Nội dung đào tạo cần gắn với những công việc cụ thể như sử dụng phần mềm quản lý sản xuất, cập nhật nhật ký điện tử, khai thác dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và vận hành thiết bị tự động. Mục tiêu là từng bước hình thành đội ngũ nông dân có kiến thức, kỹ năng số, có khả năng tiếp cận và làm chủ công nghệ trong sản xuất.
Một giải pháp nữa là lựa chọn các mô hình điểm có quy mô và mức đầu tư phù hợp. Chúng tôi không chủ trương đầu tư dàn trải hoặc áp dụng những công nghệ quá phức tạp so với khả năng tiếp nhận của người dân. Mỗi mô hình cần được đánh giá trên các tiêu chí cụ thể như mức giảm chi phí, năng suất, chất lượng sản phẩm, hiệu quả sử dụng lao động và khả năng thu hồi vốn. Khi chứng minh được hiệu quả, ngành sẽ phối hợp với các địa phương, doanh nghiệp và hợp tác xã để tổ chức chuyển giao, nhân rộng.
Đối với thu hút đầu tư doanh nghiệp, định hướng của tỉnh là hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, vùng nông nghiệp công nghệ cao gắn với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ. Doanh nghiệp cần được tham gia ngay từ khâu quy hoạch vùng nguyên liệu, lựa chọn giống, chuyển giao quy trình sản xuất đến thu mua, chế biến và phân phối sản phẩm. Cùng với đó, cần phát huy vai trò của hợp tác xã trong tổ chức sản xuất, liên kết các hộ nông dân, bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định và đồng đều về chất lượng.
Chúng tôi cho rằng, muốn thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao thì phải tạo được môi trường đầu tư thuận lợi, có vùng nguyên liệu rõ ràng, cơ chế phối hợp minh bạch và khả năng kết nối thị trường. Khi doanh nghiệp nhìn thấy hiệu quả kinh tế và tính ổn định của chuỗi sản xuất, họ sẽ có động lực đầu tư dài hạn, đưa công nghệ mới vào sản xuất và chế biến nông sản.
Phóng viên: Trong thời gian tới, để đưa các mục tiêu của Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 71/NQ-CP đi vào thực tiễn, Ninh Bình sẽ ưu tiên những nhiệm vụ, giải pháp đột phá nào? Ngành Nông nghiệp và Môi trường đặt ra những mục tiêu cụ thể gì về ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền nông nghiệp xanh, thông minh, hiệu quả và phát triển bền vững?
Ông Nguyễn Sinh Tiến: Trong thời gian tới, chúng tôi xác định phải chuyển mạnh từ giai đoạn ứng dụng công nghệ ở một số mô hình riêng lẻ sang tổ chức triển khai có hệ thống, có trọng tâm và có khả năng nhân rộng. Trên cơ sở các mục tiêu của Trung ương và định hướng phát triển của tỉnh, ngành Nông nghiệp và Môi trường tập trung vào bốn nhóm nhiệm vụ trọng tâm.
Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu, nền tảng quản trị số ngành nông nghiệp và môi trường. Đây là nhiệm vụ có tính nền tảng, dự kiến tập trung triển khai trong giai đoạn 2027-2028. Ngành sẽ từng bước chuẩn hóa dữ liệu về đất đai, vùng trồng, cơ sở chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, nguồn nước, môi trường và tình hình dịch bệnh; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu với hệ thống dùng chung của tỉnh và các nền tảng chuyên ngành của Trung ương. Qua đó, nâng cao chất lượng công tác thống kê, dự báo, quản lý và điều hành sản xuất.

Các vùng sản xuất tập trung được định hướng phát triển gắn với quy hoạch, liên kết chuỗi giá trị và nhu cầu thị trường, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn hỗ trợ. Ảnh: Dương Duy
Thứ hai, mở rộng ứng dụng công nghệ số trong truy xuất nguồn gốc đối với các sản phẩm nông nghiệp chủ lực và sản phẩm OCOP. Chúng tôi sẽ tập trung hỗ trợ xây dựng mã số vùng trồng, vùng nuôi, nhật ký sản xuất điện tử, mã QR và mã vạch; từng bước hình thành hệ thống thông tin minh bạch về chất lượng, quy trình sản xuất và nguồn gốc sản phẩm. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao uy tín nông sản, đáp ứng yêu cầu của hệ thống phân phối hiện đại và các thị trường xuất khẩu.
Thứ ba, triển khai thí điểm và nhân rộng ba nhóm mô hình ứng dụng khoa học, công nghệ có tính lan tỏa. Đó là mô hình sản xuất lúa chất lượng cao gắn với giảm phát thải; mô hình nuôi trồng thủy sản ứng dụng công nghệ quan trắc môi trường, cảnh báo sớm; mô hình chăn nuôi an toàn sinh học kết hợp xử lý chất thải theo hướng tuần hoàn.
Đối với trồng trọt, trọng tâm là cơ giới hóa, ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm, quản lý dinh dưỡng và dịch hại, giảm sử dụng vật tư đầu vào, nâng cao chất lượng nông sản. Đối với thủy sản, cần tăng cường quan trắc các thông số môi trường nước, cảnh báo những biến động bất lợi để người nuôi chủ động điều chỉnh quy trình sản xuất, hạn chế rủi ro. Trong chăn nuôi, ưu tiên ứng dụng hệ thống giám sát tự động, kiểm soát dịch bệnh, xử lý chất thải và tận dụng phụ phẩm để phát triển sản xuất tuần hoàn.
Thứ tư, đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và IoT trong quản lý sản xuất nông nghiệp thông minh. Chúng tôi định hướng sử dụng các công nghệ này để hỗ trợ phân tích dữ liệu, cảnh báo sâu bệnh, thiên tai, giám sát môi trường sản xuất và phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường trong chăn nuôi. Tuy nhiên, việc triển khai cần có lộ trình, lựa chọn những mô hình phù hợp, đánh giá kỹ hiệu quả trước khi mở rộng.
Về mục tiêu đến năm 2030, ngành phấn đấu trên 50% cơ sở sản xuất nông nghiệp quy mô lớn ứng dụng công nghệ tiên tiến và công nghệ số; trên 90% sản phẩm nông nghiệp chủ lực có truy xuất nguồn gốc điện tử; tỷ lệ hồ sơ thủ tục hành chính giải quyết đúng hạn tiếp tục được duy trì ở mức cao. Mỗi năm có ít nhất ba mô hình đổi mới sáng tạo được triển khai và nhân rộng, tạo thêm những cách làm mới, có hiệu quả trong sản xuất.

Tỉnh Ninh Bình ưu tiên nguồn lực hỗ trợ các mô hình sản xuất có lợi thế, từng bước hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với ứng dụng khoa học, công nghệ. Ảnh: Dương Duy
Xa hơn, tầm nhìn đến năm 2045 là xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, hiện đại, tuần hoàn, phát thải thấp, có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển hài hòa giữa kinh tế nông nghiệp với bảo vệ tài nguyên, môi trường và gìn giữ bản sắc văn hóa nông thôn.
Chúng tôi nhận thức rằng, chuyển đổi số và ứng dụng khoa học, công nghệ trong nông nghiệp không phải là nhiệm vụ có thể hoàn thành trong thời gian ngắn. Đây là quá trình lâu dài, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, các ngành, sự tham gia chủ động của doanh nghiệp, hợp tác xã và người nông dân. Vì vậy, bên cạnh việc đầu tư công nghệ, ngành sẽ tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường liên kết sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Mục tiêu cuối cùng là để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số thực sự đi vào từng cánh đồng, trang trại, vùng nuôi và cơ sở chế biến; giúp người nông dân sản xuất hiệu quả hơn, doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và nông sản Ninh Bình tạo dựng được vị thế vững chắc trên thị trường. Đây cũng là đóng góp thiết thực của ngành Nông nghiệp và Môi trường vào mục tiêu phát triển nhanh, xanh và bền vững của tỉnh trong giai đoạn mới.
Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.