Giữ lửa nghề đúc lưỡi cày của người Mông ở Tủa Sín Chải

Quân Nguyễn - Hoàng Anh

22/02/2026 06:10 GMT+7

VTV.vn - Với tập quán canh tác, sinh sống trên núi cao, để tiết kiệm chi phí sản xuất và thời gian, từ xưa người Mông thường tự đúc lưỡi cày để sản xuất trong dịp đầu năm mới.

Toàn cảnh một buổi đúc lưỡi cày tập trung tại gia đình người Mông ở Tủa Sín Chải, nơi các thành viên trong bản cùng nhau hỗ trợ sản xuất đầu năm mới.

Toàn cảnh một buổi đúc lưỡi cày tập trung tại gia đình người Mông ở Tủa Sín Chải, nơi các thành viên trong bản cùng nhau hỗ trợ sản xuất đầu năm mới.

Trên những triền núi cao quanh năm mây phủ của xã vùng cao xã Tủa Sín Chải, tỉnh Lai Châu, cuộc sống của đồng bào Mông vẫn gắn chặt với nương ngô, ruộng lúa trên đất đá. Trong điều kiện sản xuất còn nhiều thiếu thốn, người dân nơi đây từ bao đời đã tự tạo ra những công cụ lao động phù hợp với địa hình dốc và nhiều sỏi đá. Trong số đó, nghề đúc lưỡi cày không chỉ là giải pháp phục vụ sản xuất mà còn là nét văn hóa lao động đặc sắc được gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Với tập quán canh tác trên nương cao, đất ít, đá nhiều, mỗi nhát cày đều phải len lỏi qua lớp đất mỏng phủ trên nền đá cứng. Vì vậy, chiếc lưỡi cày thông thường khó đáp ứng yêu cầu. Người Mông ở Tủa Sín Chải đã sáng tạo ra loại lưỡi cày có hình dáng riêng, mũi hơi cong, bản rộng vừa phải, đủ chắc để chịu va đập nhưng vẫn linh hoạt khi cày trên địa hình gồ ghề. Chính đặc điểm này giúp họ chủ động trong sản xuất, tiết kiệm chi phí và thời gian mỗi khi bước vào vụ mới.

Giữ lửa nghề đúc lưỡi cày của người Mông ở Tủa Sín Chải - Ảnh 1.

Cận cảnh khuôn đúc được làm từ đất trắng trộn bột than hoặc bột đá, đã được miết nhẵn bề mặt để đảm bảo độ chính xác cho lưỡi cày thành phẩm.

Theo kinh nghiệm của những người thợ lâu năm, đúc lưỡi cày là công việc nặng nhọc, đòi hỏi sức khỏe, sự tỉ mỉ và kiên trì. Ông Sùng Súa Sử, người đã có hơn hai mươi năm gắn bó với nghề, chia sẻ rằng trước đây hầu như gia đình nào cũng biết làm, nhưng hiện nay số người còn duy trì công việc này không nhiều. Nghề chỉ thực sự đỏ lửa vào mùa nông nhàn, nhất là dịp đầu năm khi bà con chuẩn bị cày ải để gieo trồng vụ xuân.

Giữ lửa nghề đúc lưỡi cày của người Mông ở Tủa Sín Chải - Ảnh 2.

Các thợ lâu năm cùng bàn bạc và kiểm tra khuôn đúc trước khi rót gang nóng chảy, thể hiện tinh thần cộng đồng đặc sắc trong lao động.

Nguyên liệu để làm lưỡi cày chủ yếu được tận dụng từ các vật dụng bằng thép đã hỏng như chảo gang, lưỡi cày cũ hoặc những mảnh kim loại không pha tạp. Việc tái sử dụng không chỉ giúp tiết kiệm mà còn thể hiện thói quen sản xuất gắn với sự chắt chiu của đồng bào vùng cao. Sau khi lựa chọn vật liệu phù hợp, người thợ bắt tay vào chuẩn bị lò nung, khuôn đúc và hệ thống tạo gió – những yếu tố quyết định chất lượng sản phẩm.

Giữ lửa nghề đúc lưỡi cày của người Mông ở Tủa Sín Chải - Ảnh 3.

Khuôn đúc được hong nóng bên cạnh lò nung trước khi rót gang nhằm tránh tình trạng nứt vỡ do chênh lệch nhiệt độ đột ngột.

Lò nung được dựng thủ công từ đất sét, đá và than củi. Bên cạnh lò là bệ sục tạo gió, thường làm từ thân gỗ khoét rỗng, lắp thêm các chi tiết giúp đẩy luồng không khí vào buồng đốt. Công việc này cần có ít nhất hai người phối hợp. Một người liên tục đẩy bệ sục để giữ lửa cháy đều, người còn lại theo dõi nhiệt độ, chuẩn bị khuôn và kiểm soát độ chảy của kim loại. Nhiều gia đình, phụ nữ đảm nhận việc tạo gió bởi thao tác không quá phức tạp nhưng phải bền sức.

Giữ lửa nghề đúc lưỡi cày của người Mông ở Tủa Sín Chải - Ảnh 4.

Những mảnh nguyên liệu thép và gang cũ được tận dụng, chuẩn bị đưa vào lò nung để tái chế thành những chiếc lưỡi cày mới bền chắc.

Khâu nung gang được xem là quan trọng nhất. Lửa phải đủ lớn, nhiệt ổn định và duy trì liên tục trong thời gian dài. Người thợ phải quan sát màu kim loại trong lò, dựa vào kinh nghiệm để xác định thời điểm thích hợp. Nếu gang chưa đủ độ dẻo mà đã đem đổ, lưỡi cày dễ bị rỗ hoặc nứt; ngược lại, nung quá lâu khiến kim loại giòn, khó tạo hình. Tất cả phụ thuộc vào sự khéo léo và cảm nhận của người làm nghề.

Giữ lửa nghề đúc lưỡi cày của người Mông ở Tủa Sín Chải - Ảnh 5.

Công đoạn nung gang đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng; người thợ liên tục tiếp thêm nhiên liệu và theo dõi nhiệt độ lò để kim loại đạt độ chảy lý tưởng.

Song song với quá trình nung, khuôn đúc cũng được chuẩn bị cẩn thận. Khuôn thường làm từ đất trắng trộn bột than hoặc bột đá, giúp chịu nhiệt tốt và tạo bề mặt nhẵn. Người thợ dùng hỗn hợp đất mịn quét lên khuôn, tỉ mẩn miết từng chỗ lồi lõm để đảm bảo độ chính xác. Sau đó khuôn được hong nóng trước khi rót gang nhằm tránh nứt vỡ do chênh lệch nhiệt độ.

Giữ lửa nghề đúc lưỡi cày của người Mông ở Tủa Sín Chải - Ảnh 6.

Người thợ tập trung quan sát màu kim loại và nhiệt độ bên trong lò nung được dựng thủ công từ đất sét và đá.

Khi mọi thứ đã sẵn sàng, gang nóng chảy được nhấc ra khỏi lò và rót nhanh vào khuôn. Đây là công đoạn đòi hỏi sự tập trung cao độ. Chỉ cần sai lệch nhỏ, dòng kim loại không đều hoặc khuôn chưa đạt yêu cầu, người thợ buộc phải làm lại từ đầu. Sau khi rót xong, khuôn được để nguội tự nhiên. Thời gian chờ đợi thường kéo dài nhiều giờ, đủ để kim loại đạt độ cứng cần thiết.

Khi khuôn nguội, chiếc lưỡi cày thô được lấy ra, tiếp tục chỉnh sửa bằng búa và đá mài. Lưỡi đạt chuẩn phải có mũi không lệch, mặt phẳng, thân chắc và cân đối. Người dân nơi đây tin rằng lưỡi cày tốt sẽ giúp việc làm đất nhẹ hơn, ít tốn sức kéo của trâu, đồng thời hạn chế hư hỏng khi gặp đá ngầm. Chính vì vậy, mỗi sản phẩm hoàn thiện không chỉ là công cụ lao động mà còn chứa đựng niềm tự hào của người thợ.

Giữ lửa nghề đúc lưỡi cày của người Mông ở Tủa Sín Chải - Ảnh 7.

Bàn tay rám nắng của người thợ tỉ mỉ miết phẳng và điều chỉnh khuôn đúc, một công việc đòi hỏi sự kiên trì và độ chính xác cao.

Ông Lý A So, trưởng bản Tủa Sín Chải, cho biết nghề đúc lưỡi cày tuy không mang lại thu nhập lớn nhưng có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống sản xuất. Nhờ tự chế tạo công cụ, bà con chủ động hơn khi vào vụ, không phải đi xa mua sắm. Hơn nữa, nghề còn gắn với tinh thần cộng đồng, bởi mỗi lần đúc lưỡi cày thường có nhiều người tham gia, cùng hỗ trợ nhau từ khâu chuẩn bị đến hoàn thiện.

Khác với nhiều nghề thủ công ở miền xuôi hoạt động quanh năm, nghề đúc lưỡi cày ở Tủa Sín Chải chỉ rộn ràng trong vài tháng đầu năm. Đó là thời điểm những cơn mưa đầu mùa làm đất mềm, các hốc đá thấm nước, thuận lợi cho việc cày nương trồng ngô. Khi khói lò bốc lên trên sườn núi, cũng là lúc báo hiệu mùa sản xuất mới bắt đầu.

Giữ lửa nghề đúc lưỡi cày của người Mông ở Tủa Sín Chải - Ảnh 8.

Công đoạn quét hỗn hợp đất mịn lên khuôn để tạo bề mặt nhẵn bóng cho chiếc lưỡi cày, giúp giảm lực cản khi cày nương rẫy.

Dù vậy, trước sự thay đổi của đời sống hiện đại, nghề truyền thống này đang đứng trước nguy cơ mai một. Sự xuất hiện của các loại lưỡi cày công nghiệp, giá thành không quá cao, khiến nhiều hộ dân lựa chọn mua sẵn thay vì tự làm. Bên cạnh đó, lớp trẻ ít mặn mà với công việc nặng nhọc, trong khi những người thợ già dần yếu sức. Nếu không có sự quan tâm gìn giữ, một nét nghề độc đáo của đồng bào Mông nơi đây có thể dần biến mất.

Tuy nhiên, trong suy nghĩ của nhiều người dân Tủa Sín Chải, chiếc lưỡi cày tự đúc vẫn mang giá trị riêng. Nó phù hợp với địa hình nương đá, bền chắc và dễ sửa chữa. Quan trọng hơn, mỗi nhát búa, mỗi lần nhóm lửa đều gợi nhắc về truyền thống lao động của cha ông. Giữ nghề không chỉ là giữ một phương thức sản xuất mà còn là giữ ký ức văn hóa của cộng đồng.

Giữa nhịp sống đổi thay của vùng cao, hình ảnh lò đúc đỏ lửa mỗi độ đầu năm vẫn âm thầm tồn tại như minh chứng cho sức sống của nghề thủ công bản địa. Những chiếc lưỡi cày được rèn từ mồ hôi, kinh nghiệm và tinh thần gắn bó với đất đai vẫn tiếp tục đồng hành cùng người Mông trên nương đá. Và chừng nào tiếng búa còn vang trên sườn núi, chừng đó nghề đúc lưỡi cày ở Tủa Sín Chải vẫn còn được gìn giữ.

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bình luận không đăng nhập

Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.