Nhập siêu trở lại sau 10 năm
Báo cáo từ Bộ Công Thương, cập nhật trong nửa đầu tháng 6/2026, hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục đà tăng trưởng. Tính đến hết ngày 15/6/2026, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 239,9 tỷ USD, tăng 21,1% so với cùng kỳ năm 2025; trong khi nhập khẩu đạt 256,72 tỷ USD, tăng 33,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Tuy nhiên, một điểm đáng chú ý, tốc độ tăng nhập khẩu tiếp tục cao hơn tốc độ tăng xuất khẩu. Tính đến ngày 15/6/2026, nhập siêu khoảng 16,8 tỷ USD. Đáng chú ý, xu hướng nhập siêu kéo dài liên tục theo các tháng tính từ đầu năm 2026. Theo số liệu từ Cục Thống kê, cán cân thương mại hàng hoá trong hai tháng 4 và tháng 5/2026 lần lượt ở mức nhập siêu 3,28 tỷ USD và 5,21 tỷ USD.
Những con số trên cho thấy xu hướng nhập siêu quay trở lại sau một thập kỷ thương mại Việt Nam liên tục duy trì xuất siêu.

Ảnh minh họa (VTV)
Bên cạnh đó, số liệu từ Cục Hải quan cho thấy, tính đến nửa đầu năm 2026, mức thâm hụt thương mại của Việt Nam chủ yếu đến từ khu vực doanh nghiệp trong nước là 22,6 tỷ USD, trong khi khối FDI vẫn xuất siêu 5,8 tỷ USD.
Lý giải sự đảo chiều trong cán cân thương mại, ông Nguyễn Anh Khoa, Giám đốc phân tích CTCP Chứng khoán Agribank (Agriseco) cho rằng nguyên nhân có thể xuất phát từ việc nền kinh tế đang bước vào giai đoạn mở rộng sản xuất và đầu tư, kéo theo nhu cầu nhập khẩu máy móc, linh kiện, nguyên phụ liệu và năng lượng tăng nhanh hơn so với độ tăng của xuất khẩu. Trong các giai đoạn tăng trưởng cao trước đây của nền kinh tế Việt Nam, khi đầu tư và xuất khẩu tăng nhanh, nhu cầu nhập khẩu đầu vào cũng tăng mạnh.
Bên cạnh yếu tố nhập khẩu đầu vào cho sản xuất, nhóm hàng xăng dầu, dầu thô và các mặt hàng năng lượng cũng là nguyên nhân khiến nhập siêu tăng nhanh. Giá dầu thế giới biến động mạnh trong bối cảnh chiến sự tại Trung Đông kéo dài gần 3 tháng, trong khi nhu cầu sản xuất, vận tải và tiêu dùng trong nước ở mức cao, làm gia tăng áp lực nhập khẩu của nền kinh tế.
Mặt khác, khối FDI vẫn duy trì xuất siêu vì họ là lực lượng chủ đạo trong các ngành xuất khẩu lớn như điện tử, máy tính, linh kiện, điện thoại… Dù khu vực này có quy mô nhập khẩu lớn, nhưng nhờ có đơn hàng, thị trường quốc tế và năng lực sản xuất, phần nguyên liệu nhập khẩu đầu vào sau đó được chuyển hóa thành hàng xuất khẩu.
“Khối FDI nhập khẩu để phục vụ chuỗi xuất khẩu toàn cầu, trong khi một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp nội địa nhập khẩu để phục vụ sản xuất trong nước, thương mại nội địa hoặc các khâu gia công có giá trị gia tăng chưa cao”, ông Nguyễn Anh Khoa cho biết.
Có đáng lo ngại?
Phân tích về vấn đề này, ông Lê Trung Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Thống kê cho rằng, không thể chỉ nhìn vào con số nhập siêu để kết luận về “sức khỏe” nền kinh tế. Điều cốt yếu là phải xác định dòng nhập khẩu đang đi vào đâu và tạo ra giá trị như thế nào. Nếu nhập khẩu phục vụ đầu tư, sản xuất và mở rộng năng lực công nghiệp, đây có thể là yếu tố hỗ trợ tăng trưởng. Ngược lại, nhập khẩu chủ yếu phục vụ tiêu dùng cuối cùng sẽ tạo ra tác động khác đối với nền kinh tế.
Đại diện Cục Thống kê cho biết, trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh đầu tư vào hạ tầng số, công nghệ và các dự án lớn, lượng máy móc thiết bị nhập khẩu có thể tăng đáng kể. Tuy nhiên, những mặt hàng này cần được phân tích theo tiến độ triển khai dự án.
“Nếu máy móc mới về cảng, đang trong quá trình vận chuyển, lắp đặt hoặc chưa đưa vào hoạt động thì chưa được tính ngay vào phần tích lũy tài sản trong nền kinh tế. Khi được đưa vào sản xuất, chúng mới phát huy vai trò trong việc nâng cao năng lực sản xuất”, ông Lê Trung Hiếu phân tích.
Theo số liệu của Cục Hải quan, xét về cơ cấu, nhóm hàng là tư liệu sản xuất đã chiếm trên 94% tổng giá trị nhập khẩu 5 tháng đầu năm. Trong đó, máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 55,7%; nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 38,4%; hàng tiêu dùng chỉ chiếm 5,9%.

Ảnh minh họa (VTV)
Cùng quan điểm, ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng (Trường Đại học Nguyễn Trãi) cho rằng, điều đáng quan tâm không chỉ là con số nhập siêu bao nhiêu tỷ USD, mà quan trọng hơn là Việt Nam đang nhập khẩu những gì và để làm gì.
Thực tế cho thấy phần lớn kim ngạch nhập khẩu vẫn tập trung vào máy móc, thiết bị, linh kiện, nguyên vật liệu và tư liệu sản xuất. Điều này phản ánh nhu cầu mở rộng sản xuất của khu vực doanh nghiệp trong nước cũng như khu vực FDI. Nói cách khác, một phần đáng kể mức nhập siêu hiện nay có thể được xem là “nhập khẩu cho tăng trưởng”, tạo nền tảng cho năng lực sản xuất và xuất khẩu trong các quý tiếp theo.
“Vấn đề cốt lõi hiện nay không phải là nhập siêu hay xuất siêu về mặt số học, mà là chất lượng của tăng trưởng thương mại, năng lực nội sinh của nền kinh tế và khả năng nâng cao giá trị gia tăng trong chuỗi sản xuất”, ông Nguyễn Quang Huy cho biết.
Thách thức không nhỏ
Tuy nhiên, mức nhập siêu cao trong nửa đầu năm 2026 cũng đặt ra những thách thức. Ông Nguyễn Anh Khoa, Giám đốc phân tích Agriseco cho biết, tình trạng nhập siêu lớn làm gia tăng nhu cầu ngoại tệ trong ngắn hạn, đặc biệt khi doanh nghiệp phải thanh toán nhập khẩu máy móc, nguyên vật liệu và hàng hóa trung gian.
“Trong bối cảnh chỉ số sức mạnh đồng USD (DXY) vượt mốc 100, cao nhất kể từ đầu năm 2026 đến nay, áp lực lên tỷ giá USD/VND là có”, ông Khoa phân tích.
Dù vậy, phần lớn kim ngạch nhập khẩu hiện nay vẫn là tư liệu sản xuất, điều này cho thấy nhu cầu ngoại tệ đang gắn liền với hoạt động sản xuất và đầu tư. Nếu các đơn hàng xuất khẩu cải thiện trong nửa cuối năm, một phần nhập khẩu đầu vào hiện tại có thể chuyển hóa thành nguồn thu ngoại tệ trong các quý sau.
Tương tự, rủi ro lạm phát nhập khẩu cũng hiện hữu khi Việt Nam có độ mở kinh tế lớn và phụ thuộc nhiều vào nguyên nhiên vật liệu nhập khẩu. Khi giá năng lượng, chi phí logistics toàn cầu duy trì ở mức cao và tỷ giá chịu áp lực, chi phí đầu vào có thể tăng lên và đẩy giá thành sản xuất trong nước, tạo ra áp lực lạm phát chi phí đẩy.
Về tình hình xuất nhập khẩu 6 tháng cuối năm, theo Tiến sỹ kinh tế Lê Bá Chí Nhân, những tháng còn lại của năm, xuất khẩu hàng hóa vẫn có nhiều cơ hội, nhưng thách thức sẽ phức tạp, đa chiều hơn.
Khó khăn lớn nhất là sự suy giảm và phân hóa của nhu cầu tại các thị trường chủ lực (Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản). Kinh tế thế giới tiếp tục tăng trưởng chậm, lạm phát dai dẳng ở một số khu vực khiến người tiêu dùng cắt giảm chi tiêu với các mặt hàng phi thiết yếu như dệt may, da giày, đồ gỗ, điện tử tiêu dùng - những ngành chiếm tỷ trọng lớn trong giỏ xuất khẩu Việt Nam.
Ngoài ra, xu hướng bảo hộ thương mại và hàng rào phi thuế quan gia tăng mạnh. Các nước phát triển ngày càng sử dụng tiêu chuẩn môi trường (CBAM của EU), lao động, truy xuất nguồn gốc và quy tắc xuất xứ để hạn chế hàng nhập khẩu. Doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là nhỏ và vừa, đang gặp khó khăn trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn này.
Cùng với đó, rủi ro địa chính trị và chi phí logistics tăng cao. Biến động Biển Đỏ, giá năng lượng và cước vận tải biển có thể làm bào mòn lợi nhuận xuất khẩu vốn đã mỏng.
Giữ nhịp xuất khẩu, hướng tới xuất siêu
Về xu hướng xuất nhập khẩu cuối năm 2026, ông Nguyễn Anh Khoa, Giám đốc phân tích Agriseco nhận định, các doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu trước 2 đến 3 tháng để chuẩn bị cho các đơn hàng cuối năm là có cơ sở, nhất là với các ngành sản xuất theo chuỗi như điện tử, dệt may, da giày, máy móc thiết bị và hàng tiêu dùng xuất khẩu. Lý do là nhập khẩu đầu vào thường đi trước xuất khẩu thành phẩm một khoảng thời gian. Họ cần thời gian để hoàn tất sản xuất, giao hàng và ghi nhận doanh thu xuất khẩu. “Tôi kỳ vọng áp lực nhập siêu có thể giảm dần từ cuối quý III khi một phần hàng tồn kho đầu vào được chuyển hóa thành đơn hàng xuất khẩu”, ông Khoa cho biết.
Ông Trần Thanh Hải, Phó cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) đánh giá, nhìn tổng thể, triển vọng xuất khẩu trong các tháng cuối năm phụ thuộc lớn vào diễn biến kinh tế thế giới, tình hình địa chính trị, xu hướng giá năng lượng và kết quả đàm phán thương mại của các nền kinh tế lớn. Bên cạnh đó, tiến trình đàm phán thuế quan với Mỹ sẽ tiếp tục là một trong những yếu tố có ảnh hưởng đáng kể đến diễn biến xuất khẩu của Việt Nam.
Đa dạng các thị trường mới là cách mà nhiều doanh nghiệp đang triển khai, trong bối cảnh tiêu dùng tại các nước nhập khẩu truyền thống đang chững lại.
“Các nước trong Hội đồng hợp tác Vùng Vịnh có GDP bình quân đầu người rất cao. Các doanh nghiệp cần biết tận dụng thị trường của họ”, bà Nguyễn Thị Tuyết Mai, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS) cho biết.
Trong khi đó, ông Đinh Quốc Thái - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) cho rằng, để hỗ trợ ngành thép phát triển bền vững trong giai đoạn tới, Hiệp hội Thép Việt Nam cần tập trung vào hai nhiệm vụ trọng tâm.
Thứ nhất, bảo vệ thị trường nội địa trước áp lực thép giá rẻ từ bên ngoài tràn vào thị trường trong nước. Thứ hai, đẩy nhanh quá trình chuyển đổi xanh và chuyển đổi số nhằm đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của thị trường, đồng thời mở rộng cơ hội tiếp cận các thị trường xuất khẩu chất lượng cao, giảm thiểu các rào cản thương mại.
Trong khi đó, Hiệp hội Lương thực Việt Nam đề xuất Chính phủ cho phép xây dựng Đề án tái cấu trúc ngành kinh doanh xuất khẩu gạo theo định hướng Chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu gạo Việt Nam đến năm 2030. Theo Hiệp hội, việc tái cấu trúc sẽ góp phần nâng cao giá trị gia tăng, xây dựng thương hiệu bền vững, nâng sức cạnh tranh và tạo nền tảng để ngành gạo tiếp tục đóng góp tích cực vào mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu hai con số trong những năm tới.
Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.