Gỡ nút thắt để doanh nghiệp Việt tham gia sâu chuỗi cung ứng

VTV.vn - Thiếu vốn, công nghệ và nguyên liệu đang cản doanh nghiệp Việt gia nhập chuỗi cung ứng toàn cầu, trong khi mục tiêu nội địa hóa ngày càng cao.

Nâng cao chất lượng để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng

Cục Thống kê (Bộ Tài chính) vừa công bố tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam trong nửa đầu năm nay đạt 34,65 tỷ USD, tăng 61% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, riêng vốn chảy vào lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo chiếm tỷ lệ trên 53% với 18,5 tỷ USD.

Thu hút được dòng vốn là một tín hiệu tích cực, nhưng làm sao để dòng vốn lan toả và gắn kết với khu vực sản xuất trong nước là bài toán được đặt ra. Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã nêu những mục tiêu hết sức cụ thể như: Đến năm 2030, phấn đấu có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tỉ lệ nội địa hoá của các ngành công nghiệp chủ lực từ 45 - 50%.

Để đạt được những mục tiêu này, chính các doanh nghiệp Việt cũng cần tự nâng cao chất lượng để bước chân vào chuỗi cung ứng toàn cầu. 

Gỡ nút thắt để doanh nghiệp Việt tham gia sâu chuỗi cung ứng  - Ảnh 1.

Nâng chất doanh nghiệp Việt để vào sâu chuỗi cung ứng toàn cầu

Doanh nghiệp Hikari Group hiện là nhà cung ứng cấp 1 cho một doanh nghiệp sản xuất máy in của Nhật Bản. Từ những linh kiện đơn lẻ, thậm chí rất nhỏ được sản xuất hơn chục năm trước, đến nay doanh nghiệp đã sản xuất, lắp ráp được những cụm linh kiện lớn hơn, ví dụ một khay dựng giấy trong máy in, gồm có 20 chi tiết.

Để bước chân được vào thị trường châu Âu, mỗi sản phẩm của doanh nghiệp, ngoài đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng, còn phải có thêm chứng chỉ về kiểm soát cháy nổ, độ bền, hiệu suất. Đồng thời, giá cả cũng cần hết sức cạnh tranh.

Ông Nguyễn Đức Cường - Chủ tịch Hikari Group cho biết: "Thường xuyên phải có những công tác như Kaizen để cải tiến giá thành, phù hợp với yêu cầu của khác hàng. Hơn nữa, chúng tôi còn phải kiểm soát đầu vào là hoá chất để tránh gây ảnh hưởng đến môi trường và đáp ứng các yêu cầu cho người lao động".

Nếu trước đây, tấm vé phổ thông để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu là ISO 9001, thì đến nay, các doanh nghiệp cần "nâng hạng", đáp ứng các tiêu chuẩn ngày một chi tiết, khắt khe hơn và đặc biệt, là ổn định trong cả quá trình hợp tác.

Ông Lê Minh Đức - Giám đốc Công ty Cổ phần Công nghiệp JK Việt Nam cho biết: "Năng lực cạnh tranh không chỉ nằm ở việc mình có thể sản xuất bao nhiêu sản phẩm, mà là chất lượng của hàng triệu sản phẩm phải tương tự nhau. Tiến độ giao hàng cũng phải đáp ứng được, khách hàng lớn mới yên tâm hợp tác với mình".

Từ con số ban đầu chỉ khoảng vài trăm doanh nghiệp, đến nay Việt Nam có hơn 6.000 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Thế nhưng, số lượng doanh nghiệp Việt trở thành nhà cung ứng cấp 1, cấp 2 cho các doanh nghiệp FDI chưa nhiều.

Theo khảo sát của Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO), tỷ lệ mua sắm linh kiện từ nhà cung ứng Việt Nam của các doanh nghiệp Nhật 18,3%, thấp hơn Thái Lan (hơn 26%) và Indonesia (hơn 24%).

Tăng cường liên kết bằng năng lực công nghệ

Với một chiếc máy chạy bộ này được sản xuất bởi một doanh nghiệp Việt Nam với tỷ lệ nội địa hóa khoảng 40%. Những linh kiện như nhựa, bộ khung thì có thể nhập từ những nhà cung ứng trong nước. Thế nhưng với những linh kiện phức tạp hơn như bảng mạch, mô tơ, doanh nghiệp phải nhập khẩu từ những nhà cung cấp nước ngoài. Lí do không phải là không có doanh nghiệp Việt Nam sản xuất được những linh kiện này, giá cả không thể cạnh tranh với các nhà cung cấp quốc tế.

Thực tế thấy, một trong những điểm yếu của lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ Việt Nam không nằm ở chỗ thiếu doanh nghiệp, mà ở chỗ chưa tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao, trong những dây chuyền cần công nghệ cao.

Doanh nghiệp chia sẻ, thời gian đối tác dịch chuyển sản xuất sang thị trường Việt Nam tương đối gấp, nên họ chỉ định nhà cung cấp linh kiện điện tử. Thời gian tới, hai bên cùng mong muốn tìm cách để nâng tỉ lệ nội địa hoá lên 100%. Để đạt được mục tiêu này, doanh nghiệp đề xuất hình thành một hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ Việt, với những doanh nghiệp lớn dẫn đầu.

"Nếu chúng ta có được những doanh nghiệp đầu đàn, các doanh nghiệp đó sẽ dẫn dắt. Ví dụ chúng tôi làm sản phẩm lớn, thì có những doanh nghiệp làm sản phẩm nhựa, điện tử phối hợp để làm ra sản phẩm lớn như vậy, tạo thành một hệ sinh thái", ông Nguyễn Năng An - Tổng Giám đốc Công ty Công nghệ COSMOS cho biết.

Hiện nay, đa phần các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam thường chỉ dừng ở mức độ gia công theo bản vẽ của khách hàng, với những linh kiện nhỏ lẻ, giá trị gia tăng không cao. Muốn phát triển lên tầm cao hơn, tham gia từ khâu thiết kế sản phẩm cùng với đối tác, doanh nghiệp bắt buộc phải đầu tư cho năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D).

Ông Lê Minh Đức, Giám đốc Công ty Cổ phần Công nghiệp JK Việt Nam, cho rằng: "Để doanh nghiệp Việt có cơ hội làm những cụm sản phẩm khó hơn, lớn hơn cần sự tham gia hỗ trợ đến từ các trường đại học và các viện nghiên cứu. Có thể thành lập những trung tâm nghiên cứu thử nghiệm dùng chung trong nhều ngành và khi chúng tôi có những ý tưởng có thể nhờ các trung tâm thử nghiệm này hỗ trợ".

Đầu tư công nghệ luôn đi kèm bài toán vốn. Thế nhưng, đa phần doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam lại chỉ ở quy mô nhỏ và vừa, khó mà tránh khỏi vòng lặp "thiếu vốn - nên công nghệ thấp - khó vào chuỗi - rồi lại vì thế mà khó vay vốn". Do đó, rất cần những gói tín dụng "may đo" dành riêng cho lĩnh vực này.

Vốn giúp doanh nghiệp đầu tư máy móc, công nghệ và dây chuyền sản xuất. Nhưng để làm chủ chuỗi giá trị, doanh nghiệp còn cần nguồn vật liệu đầu vào đạt tiêu chuẩn. Trong khi nhiều loại thép hợp kim, nhựa kỹ thuật, hay hóa chất chuyên dụng vẫn phải nhập khẩu, khả năng tự chủ của ngành công nghiệp hỗ trợ vẫn còn hạn chế.

Gỡ nút thắt để doanh nghiệp Việt tham gia sâu chuỗi cung ứng  - Ảnh 2.

Phát triển công nghiệp vật liệu để chủ động chuỗi cung ứng

Tháng 4 vừa qua, Việt Nam lần đầu tiên lọt Top 10 'cường quốc' sản xuất thép thô lớn nhất thế giới, với sản lượng 8,5 triệu tấn. Sản lượng thép thành phẩm cũng đạt trên 32 triệu tấn trong cả năm 2025

Trong cơ cấu ngành thép thành phẩm Việt Nam, chiếm tỉ lệ lớn nhất, 40% là thép xây dựng, theo sau là thép cân nóng, cán nguội, tôn mạ. Tỉ lệ thép dành cho công nghiệp hỗ trợ rất nhỏ, chiếm chiếm vỏn vẹn khoảng 5 - 10%, tuỳ theo năm.

Các doanh nghiệp chia sẻ, 70 - 80% giá thành sản phẩm nằm ở khâu nguyên vật liệu, cũng là phần mà doanh nghiệp Việt hiện không chủ động được.

Ông Nguyễn Đức Cường - Chủ tịch Hikari Group cho hay: "Giả sử như thép, thép mác, thép 45 hoặc cao hơn, để làm khuôn mẫu, chế tạo thì chúng ta chưa sản xuất được. Chúng ta vẫn phải xuất quặng, xuất thô, nhưng lại phải nhập nguyên liệu. Trong trường hợp chúng ta muốn cạnh tranh, họ chỉ cần tăng giá nguyên vật liệu là chúng ta đã mất khả năng cạnh tranh".

Công nghiệp hỗ trợ chỉ có thể phát triển mạnh khi thị trường đủ lớn. Quy mô thị trường càng lớn, sản lượng càng cao, chi phí sản xuất càng giảm, từ đó thu hút thêm nhiều doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng. Lấy ví dụ như ngành ô tô, nhiều năm qua quy mô thị trường Việt Nam chỉ khoảng 500.000 xe mỗi năm, bằng khoảng một nửa so với Thái Lan hay Indonesia. Điều này khiến doanh nghiệp khó đạt quy mô sản xuất đủ lớn để hình thành và phát triển chuỗi cung ứng trong nước, kể cả ở khâu nguyên liệu.

Bà Trương Thị Chí Bình - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam (VASI) nêu ý kiến: "Chúng ta phải tập hợp dung lượng thị trường lại, cần bàn tay của các cơ quan liên quan, làm sao dung lượng thuyết phục nhà đầu tư sản xuất, tạo cơ hội động lực giảm giá thành. Các nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, họ có cách để phát triển dung lượng thị trường đồng thời với việc phát triển nhà cung ứng nội địa. Thái Lan từ 20 năm trước họ đã dồn sản lượng vào một số dòng xe nhất định, mà họ gọi là dòng xe chiến lược".

Nếu công nghiệp hỗ trợ là "mắt xích" của chuỗi sản xuất, thì công nghiệp vật liệu chính là "gốc rễ" của chuỗi đó. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã yêu cầu Đảng uỷ Chính phủ xây dựng Chiến lược phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, với yêu cầu chuyển mạnh từ khai thác tài nguyên sang chế biến sâu, làm chủ công nghệ và nâng cao giá trị gia tăng trong nước.

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bình luận không đăng nhập

Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.