Kỳ tích từ những con số "biết nói"
Nhìn lại lịch sử phát triển hạ tầng đường bộ Việt Nam, giai đoạn 2021-2025 sẽ được ghi dấu như một mốc son chói lọi. Nếu như trong suốt một thập kỷ từ 2001 đến 2010, cả nước mới chỉ đưa vào khai thác vỏn vẹn 89km đường cao tốc, và giai đoạn 10 năm tiếp theo (2011-2020) con số này tăng thêm hơn 1.000km, thì chỉ trong vòng 5 năm trở lại đây, chúng ta đã làm được gấp đôi khối lượng của hai thập kỷ trước cộng lại.
Những ngày đầu năm 2026, ông Phạm Thành Long (Long Biên, Hà Nội) không giấu nổi sự phấn khởi khi vừa trở về từ chuyến thăm thân tại miền Tây Nam Bộ. Ông chia sẻ: "Trước đây, từ Đồng Tháp về sân bay Cần Thơ là một hành trình gian nan, mất gần 2 tiếng đồng hồ vì đường hẹp và đông đúc. Giờ có cao tốc Mỹ Thuận - Cần Thơ, tôi chỉ mất đúng 1 tiếng. Đường đẹp, xe chạy êm, chuyến đi vừa an toàn vừa tiết kiệm sức lực".

Cao tốc Vĩnh Hảo - Phan Thiết
Sự hài lòng của người dân như ông Long chính là minh chứng rõ ràng nhất cho hiệu quả của việc đầu tư hạ tầng. Theo ông Nguyễn Thế Minh, Phó cục trưởng Cục Kinh tế - Quản lý đầu tư xây dựng, Bộ Xây dựng, đây là thời kỳ hệ thống đường bộ cao tốc phát triển nhanh nhất, đánh dấu bước đột phá mang tính lịch sử cả về quy mô đầu tư lẫn tốc độ thi công. Tính đến hết năm 2025, tổng chiều dài tuyến chính đường bộ cao tốc hoàn thành, thông xe đã đạt con số 3.188km. Nếu tính cả chiều dài các nút giao và đường dẫn, con số này lên tới 3.513km – một tốc độ phát triển "thần mã" trong lịch sử ngành giao thông vận tải nước nhà.
Cơ chế đặc thù: "Chìa khóa" tháo gỡ điểm nghẽn
Để có được khối lượng công việc khổng lồ này, không thể không nhắc đến những quyết sách mạnh mẽ và đột phá về thể chế. Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về ba đột phá chiến lược, Quốc hội và Chính phủ đã ban hành hàng loạt cơ chế đặc thù chưa từng có tiền lệ.
Dự án Cao tốc Cam Lâm - Vĩnh Hảo.
Việc rút ngắn thủ tục đầu tư, áp dụng hình thức chỉ định thầu cho các gói thầu xây lắp lớn, hay đặc biệt là việc giao mỏ vật liệu trực tiếp cho nhà thầu đã tháo gỡ "cơn khát" đất đắp, đá xây dựng vốn là rào cản lớn nhất của các dự án trước đây. Bên cạnh đó, việc phân cấp mạnh mẽ cho các địa phương làm cơ quan chủ quản dự án đã phát huy tính chủ động, giúp công tác giải phóng mặt bằng – vốn được coi là "nhiệm vụ bất khả thi" – được triển khai đồng bộ và quyết liệt hơn.
Hàng loạt "mảnh ghép" cao tốc tại Đồng bằng sông Cửu Long là minh chứng rõ nét. Trước năm 2020, cả vùng kinh tế trọng điểm phía Nam này chỉ có khoảng 40km cao tốc. Nhưng chỉ trong 5 năm, chiều dài đã tăng thêm hơn 220km với các dự án trọng điểm như cầu Mỹ Thuận 2, cao tốc Cần Thơ - Hậu Giang, Hậu Giang - Cà Mau... Những cung đường này đã hiện thực hóa giấc mơ nối thông trục cao tốc từ địa đầu phía Bắc đến tận mũi Cà Mau.
Hình thành trục liên kết đa phương thức và hạ tầng logistics
Giá trị thực sự của hơn 3.000km cao tốc nằm ở việc hình thành các trục liên kết kinh tế: Cảng biển - Sân bay - Cửa khẩu. Tại miền Bắc, các tuyến cao tốc như Hà Nội - Hải Phòng, Hải Phòng - Hạ Long - Vân Đồn - Móng Cái đã tạo nên một hành lang kinh tế thông suốt.
Hành lang này không chỉ rút ngắn thời gian từ Thủ đô đi Hạ Long xuống còn 1,5 giờ mà còn thúc đẩy sự bùng nổ của chuỗi logistics tại Cảng nước sâu Lạch Huyện. Sự kết nối này giúp hàng hóa từ các khu công nghiệp tại Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương ra cảng biển trở nên nhanh chóng và rẻ hơn đáng kể. Số liệu thực tế cho thấy, sau khi các tuyến cao tốc này đưa vào khai thác, lượng khách du lịch của Quảng Ninh đã tăng gấp 1,8 lần, còn Hải Phòng tăng gấp 1,63 lần so với giai đoạn trước đó.

Cao tốc Dầu Giây - Phan Thiết. Ảnh: Việt Quốc
Tại phía Nam, sự kết nối giữa cao tốc thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây với cụm cảng Cái Mép - Thị Vải đã giúp giảm áp lực cho hệ thống đường bộ hiện hữu, đồng thời tăng năng lực cạnh tranh cho cảng biển nước sâu lớn nhất cả nước. Đối với Đồng bằng sông Cửu Long, các tuyến cao tốc không chỉ giải quyết tình trạng ùn tắc kéo dài mà còn là "cứu cánh" cho mặt hàng nông thủy sản, giúp giảm chi phí vận chuyển, từ đó nâng cao giá trị thu nhập cho người nông dân.
Không gian phát triển mới và những "vùng đất hứa"
Một trong những giá trị cốt lõi mà mạng lưới cao tốc mang lại chính là việc mở ra không gian phát triển mới. Khi hạ tầng giao thông đi trước, các địa phương vốn bị coi là "vùng sâu, vùng xa" bỗng chốc trở thành những "vùng đất hứa" thu hút đầu tư.

Ông Phạm Hữu Sơn, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty Tư vấn thiết kế Giao thông vận tải (TEDI)
Ông Phạm Hữu Sơn, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty Tư vấn thiết kế Giao thông vận tải (TEDI), đã đưa ra những con số đầy sức nặng: Giai đoạn vừa qua, các tỉnh có đường cao tốc đi qua đều ghi nhận tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân cao hơn đáng kể so với mặt bằng chung cả nước. Ví dụ, Lào Cai tăng trưởng hơn 10%, Hải Phòng gần 13%, trong khi mức bình quân chung của cả nước là khoảng 6,3%.
Sự dịch chuyển của dòng vốn đầu tư là minh chứng rõ nhất. Khi giao thông thuận tiện, các nhà đầu tư lớn, đặc biệt là các tập đoàn đa quốc gia, không còn chỉ tập trung vào các "thủ phủ" công nghiệp cũ như thành phố Hồ Chí Minh hay Bình Dương. Họ bắt đầu chuyển hướng về các tỉnh lân cận như Long An, Tiền Giang hay ra tận các tỉnh miền Trung như Quảng Ngãi, nơi có quỹ đất dồi dào và chi phí đầu tư thấp hơn nhưng vẫn đảm bảo kết nối logistics hoàn hảo nhờ cao tốc.
Xung lực kinh tế đa tầng

Chuyên gia kinh tế, Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa
Bàn về tầm quan trọng của cột mốc 3.000km, Chuyên gia kinh tế, Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa nhận định rằng đây không chỉ là dấu mốc về hạ tầng, mà là việc tạo ra xung lực kinh tế đa tầng. Theo Tiến sĩ Nghĩa, việc khởi công và hoàn thành đồng loạt hàng trăm dự án đã tác động trực tiếp tới tổng cầu của nền kinh tế. Hàng triệu tấn thép, xi măng, nhựa đường cùng hàng vạn nhân công đã được huy động, kích hoạt chuỗi giá trị của ngành xây dựng và công nghiệp phụ trợ.
"Mỗi đồng vốn đầu tư vào hạ tầng giao thông có thể tạo ra giá trị gia tăng gấp nhiều lần thông qua việc nâng cao hiệu quả lưu thông và phân phối. Trong dài hạn, hệ thống cao tốc chính là công cụ tái cấu trúc không gian kinh tế, giúp Việt Nam hấp dẫn hơn trong mắt các nhà đầu tư quốc tế và tạo ra hàng triệu việc làm bền vững." Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa phân tích.

Đại biểu Quốc hội Phạm Văn Hòa
Đồng quan điểm, Đại biểu Quốc hội Phạm Văn Hòa nhấn mạnh sự đồng lòng của cả hệ thống chính trị trong việc thực hiện mục tiêu này. Ông cho rằng, hiện nay lãnh đạo nhiều tỉnh thành đã ý thức rất rõ việc hạ tầng đi trước. Họ không còn chạy theo phát triển bất động sản ngắn hạn dọc theo các tuyến đường, mà tập trung nguồn lực để quy hoạch các khu - cụm công nghiệp ứng dụng công nghệ cao, hoàn thiện hạ tầng số để đón nhận làn sóng đầu tư mới.
Niềm tin và khát vọng về một tương lai thịnh vượng
Nhìn vào danh sách 27 dự án thành phần vừa hoàn thành và thông xe trong năm 2025, từ các đoạn trên cao tốc Bắc - Nam phía Đông như Bãi Vọt - Hàm Nghi, Quảng Ngãi - Hoài Nhơn cho đến các tuyến vành đai 3 thành phố Hồ Chí Minh hay cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu, chúng ta thấy một mạng lưới giao thông đang dần khép kín, liên thông và đồng bộ.
Sự bứt phá này không chỉ giúp giảm chi phí logistics – vốn là rào cản lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam bấy lâu nay – mà còn góp phần giảm chênh lệch phát triển giữa các vùng miền, hạn chế tình trạng phát triển cục bộ và manh mún.
Kết thúc hành trình 5 năm đầy thử thách nhưng cũng đầy tự hào, hệ thống đường bộ cao tốc Việt Nam đã thực sự bước sang một trang mới. Những con đường thênh thang không chỉ nối liền những vùng đất, mà còn nối liền những khát vọng, mở đường cho một kỷ nguyên phát triển bền vững, xanh và số hóa cho đất nước trong tương lai.
Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.