Khi nào tội trốn thuế bị xử lý hình sự?

VTV.vn - Liên tiếp nhiều giám đốc doanh nghiệp bị khởi tố vì trốn thuế. Pháp luật quy định thế nào về tội danh này và khi nào thì bị xử lý hình sự?

Một doanh nghiệp tư nhân tại TP Hồ Chí Minh đang bị điều tra vì tội trốn thuế.

Một doanh nghiệp tư nhân tại TP Hồ Chí Minh đang bị điều tra vì tội trốn thuế.

Chỉ trong vài ngày đầu tháng 3/2026, nhiều vụ án trốn thuế liên tiếp được khởi tố tại các địa phương.

Ngày 12/3, Công an tỉnh Ninh Bình khởi tố hai giám đốc doanh nghiệp là Trần Văn Khánh và Trần Văn Đoàn về tội "Trốn thuế". Theo điều tra, hai người đã mua hóa đơn giá trị gia tăng khống từ các công ty "ma" tại TP Hồ Chí Minh để hạch toán chi phí, qua đó trốn hơn 2,5 tỷ đồng tiền thuế.

Trước đó, Công an tỉnh Tuyên Quang cũng khởi tố ba giám đốc doanh nghiệp trong các vụ án trốn thuế với tổng số tiền hơn 1,8 tỷ đồng. Với các cáo buộc mua hóa đơn khống để hợp thức hóa chi phí, cũng như không lập hóa đơn khi bán hàng để che giấu doanh thu.

Trước đó, đầu tháng 2/2026, chủ doanh nghiệp tư nhân Tigit Motorbikes ở TP Hồ Chí Minh bị bắt tạm giam vì dùng tài khoản cá nhân che giấu doanh thu hơn 2 tỷ đồng, trốn gần 477 triệu đồng tiền thuế. Trong khi đó, vào năm ngoái, vụ án doanh nhân Nguyễn Hòa Bình (Shark Bình)  bị điều tra bổ sung hành vi trốn thuế gần 30 tỷ đồng xảy ra tại Công ty Vimo và AntEx cũng thu hút sự chú ý của dư luận.

Những vụ việc này cho thấy trốn thuế không chỉ xảy ra ở quy mô nhỏ lẻ mà còn xuất hiện trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau. Một câu hỏi pháp lý được nhiều người quan tâm là: khi nào hành vi vi phạm thuế bị coi là tội phạm hình sự?

Những hành vi nào bị coi là trốn thuế?

Theo luật sư Nguyễn Tiến Hòa, Công ty Luật TNHH ASL, tội trốn thuế được quy định tại Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đây là hành vi sử dụng các thủ đoạn gian dối nhằm làm giảm hoặc không nộp số thuế phải nộp cho Nhà nước.

Trong thực tế, các hành vi trốn thuế có thể diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau. Phổ biến nhất là không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa hoặc dịch vụ, kê khai doanh thu thấp hơn thực tế, hoặc sử dụng hóa đơn và chứng từ không hợp pháp để hạch toán chi phí.

Một thủ đoạn thường gặp là mua hóa đơn khống từ các "doanh nghiệp ma". Những doanh nghiệp này chỉ tồn tại trên giấy tờ, không có hoạt động kinh doanh thực tế. Hóa đơn được bán cho các doanh nghiệp khác để hợp thức hóa chi phí đầu vào.

Khi nào tội trốn thuế bị xử lý hình sự?- Ảnh 1.

Trong các vụ án tại Ninh Bình và Tuyên Quang, cơ quan điều tra xác định các bị can đã mua nhiều hóa đơn giá trị gia tăng bất hợp pháp để kê khai thuế, qua đó giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được khấu trừ.

Ngoài ra, hành vi không lập hóa đơn khi bán hàng, như trường hợp xảy ra tại Tuyên Quang, cũng có thể được coi là trốn thuế nếu nhằm che giấu doanh thu thực tế.

Theo luật sư Nguyễn Tiến Hòa, bản chất của tội trốn thuế nằm ở yếu tố gian dối có chủ đích. "Người vi phạm biết rõ nghĩa vụ thuế của mình nhưng cố tình thực hiện hành vi nhằm trốn tránh nghĩa vụ đó".

Khi nào vi phạm thuế bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Không phải mọi sai sót trong kê khai thuế đều dẫn đến trách nhiệm hình sự. Trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp có thể mắc lỗi do nhầm lẫn trong kê khai, chậm nộp hồ sơ khai thuế hoặc chậm nộp tiền thuế. Những vi phạm này thường bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật về thuế.

Tuy nhiên, nếu có hành vi gian dối nhằm trốn thuế và đạt đến ngưỡng nhất định, người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Theo quy định tại Điều 200 Bộ luật Hình sự, cá nhân có thể bị xử lý hình sự nếu số tiền trốn thuế từ 100 triệu đồng trở lên. Trong trường hợp số tiền trốn thuế dưới 100 triệu đồng, người vi phạm vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu trước đó đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này mà chưa được xóa án tích.

Điều này cho thấy ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự không chỉ nằm ở số tiền trốn thuế mà còn phụ thuộc vào yếu tố gian dối và lịch sử vi phạm của người nộp thuế.

Các vụ án vừa khởi tố gần đây đều có số tiền trốn thuế lớn, từ hàng trăm triệu đến hàng tỷ đồng. Vì vậy, cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án hình sự để xử lý theo quy định.

Khi nào tội trốn thuế bị xử lý hình sự?- Ảnh 2.

Người phạm tội trốn thuế có thể đối mặt mức án nào?

Theo Bộ luật Hình sự, tội trốn thuế được xếp vào nhóm tội phạm kinh tế. Cá nhân phạm tội có thể bị phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 4,5 tỷ đồng hoặc bị phạt tù từ 3 tháng đến 7 năm, tùy theo tính chất và mức độ vi phạm.

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định trong một thời gian nhất định.

Đối với pháp nhân thương mại, mức phạt tiền có thể lên đến 10 tỷ đồng. Trong những trường hợp nghiêm trọng, doanh nghiệp còn có thể bị đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc vĩnh viễn.

Theo thống kê, trong năm 2025, cơ quan thuế đã chuyển 39 hồ sơ kiến nghị khởi tố và hơn 38.000 tin báo liên quan vi phạm thuế cho cơ quan công an. Các con số này cho thấy việc xử lý hành vi trốn thuế đang được siết chặt hơn trong thời gian gần đây.

Từ góc độ pháp lý, việc phân định ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm về thuế có ý nghĩa quan trọng.

Theo luật sư Nguyễn Tiến Hòa, mục tiêu của pháp luật là bảo đảm tính nghiêm minh nhưng cũng tránh hình sự hóa các quan hệ kinh tế phát sinh trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Vì vậy, trong từng vụ việc cụ thể, cơ quan chức năng sẽ xem xét toàn diện các yếu tố như mức độ thiệt hại, hành vi gian dối và lỗi của người vi phạm trước khi quyết định áp dụng chế tài hành chính hay truy cứu trách nhiệm hình sự.

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bình luận không đăng nhập

Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.