Việt Nam chuẩn hóa truy xuất nguồn gốc thủy sản từ cảng cá
Khi châu Âu "xanh hóa" đại dương
Tiềm lực khổng lồ từ đại dương bao la đã mang đến một khái niệm mới nổi - Kinh tế Xanh lam hay Kinh tế biển xanh (Blue Economy) - đang trở thành một trụ cột trong không gian phát triển kinh tế mới của nhiều khu vực và quốc gia trên thế giới. Nhưng "Kinh tế biển xanh" sẽ không chỉ đơn thuần là câu chuyện làm kinh tế. Mà mục tiêu là giữ cho các đại dương "sống khỏe" - song song với việc khai thác tài nguyên.
Khái niệm này được thế giới quan tâm đặc biệt, vào đúng thời điểm ngày 17/1 vừa qua, khi "Hiệp ước Biển cả" đã chính thức có hiệu lực sau hai thập kỉ đàm phán. Trong đó, Việt Nam nằm trong số 81 quốc gia thành viên. Đây là hiệp ước toàn cầu được đánh giá mang tính bước ngoặt, cung cấp cho các quốc gia một khuôn khổ pháp lý ràng buộc để đối phó với các mối đe dọa như đánh bắt quá mức và đạt mục tiêu bảo vệ 30% môi trường đại dương vào năm 2030.
Nếu nói về các quốc gia hiện đang đi đầu thế giới về Chiến lược Kinh tế biển xanh, không thể không nhắc tới Liên minh châu Âu (EU). Với chiến lược Kinh tế biển xanh ra đời vào năm 2021, châu Âu đang coi đây là công cụ cạnh tranh địa - kinh tế, để dẫn dắt các tiêu chuẩn quốc tế và gia tăng sức ảnh hưởng tại các khu vực ven biển trên toàn cầu.
Tại cảng Antwept của Bỉ, một trong những cảng biển lớn nhất châu Âu, các cần cẩu chạy điện đang dần thay thế động cơ diesel. Tàu biển được yêu cầu sử dụng nhiên liệu ít phát thải. Còn toàn bộ hành trình được số hóa để kiểm soát tác động môi trường. Những thay đổi này phản ánh chiến lược Kinh tế biển xanh mà Liên minh châu Âu đang triển khai.
Với hơn 3,6 triệu lao động và doanh thu trên 620 tỷ Euro mỗi năm, Kinh tế biển xanh đã trở thành trụ cột phát triển của nhiều quốc gia ven biển châu Âu, đồng thời là công cụ quan trọng để thực hiện Thỏa thuận Xanh châu Âu.
Ông Costas Kadis - Ủy viên châu Âu phụ trách vấn đề Đại dương cho biết: "Với Hiệp ước đại dương mới, chúng tôi đã có một tầm nhìn chung của châu Âu về quản trị đại dương đi kèm với các hành động chính sách cụ thể".
Song song với bảo tồn, Kinh tế biển xanh cũng được xem là động lực tăng trưởng mới trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo ngoài khơi, cảng biển và công nghiệp hàng hải. Chiến lược này đang thiết lập những chuẩn mực mới cho thương mại và hợp tác quốc tế. Nhiều quốc gia muốn tiếp cận thị trường châu Âu buộc phải nâng cao tiêu chuẩn về nghề cá, truy xuất nguồn gốc và giảm phát thải. EU cũng khẳng định quyết tâm tăng cường hợp tác quốc tế trong quản trị đại dương và chống khai thác thủy sản bất hợp pháp.
Ông Costas Kadis - Ủy viên châu Âu phụ trách vấn đề Đại dương chia sẻ: "Để bảo vệ và phục hồi sức khỏe của đại dương, Ủy ban châu Âu sẽ hỗ trợ các quốc gia thành viên trong việc thiết lập và quản lý hiệu quả các khu bảo tồn biển. Nghề cá và nuôi trồng thủy sản bền vững sẽ là trọng tâm của Hiệp ước Đại dương. Chúng tôi sẽ bắt buộc áp dụng hệ thống chứng nhận điện tử đối với sản lượng khai thác từ tháng 1 năm 2026".
Kinh tế biển xanh đang trở thành một trong những xu thế phát triển quan trọng của thế giới. Đối với ASEAN và Việt Nam, đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội. Việc chủ động thích ứng với các chuẩn mực Biển xanh không chỉ giúp Việt Nam giữ vững thị trường xuất khẩu, mà còn tạo nền tảng cho một nền kinh tế hiện đại, bền vững và hội nhập sâu rộng trong tương lai.

Kinh tế biển xanh cũng trở thành chính sách phát triển tại một số nền kinh tế tại châu Á
Việt Nam chuẩn hóa truy xuất nguồn gốc thủy sản từ cảng cá
EU là một trong những thị trường xuất khẩu thủy sản lớn của Việt Nam. Vì thế, chiến lược Kinh tế biển xanh của châu Âu và mục tiêu gỡ thẻ vàng thủy sản sẽ chi phối mạnh đến những thay đổi bắt buộc của nghề cá. Cùng với quản lý chặt tàu cá, việc tiếp tục rà soát, làm sạch và chuẩn hóa dữ liệu truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác được Việt Nam xác định là giải pháp then chốt, giúp khép kín và minh bạch chuỗi. Việc xây dựng ba cảng cá kiểu mẫu gồm Sông Đốc (Cà Mau), Thọ Quang (Đà Nẵng) và Lạch Bạng (Thanh Hóa) đang từng bước hình thành chuẩn mực mới cho phát triển nghề cá, đáp ứng những mục tiêu của Kinh tế biển xanh.
Cảng cá Lạch Bạng, mỗi năm tiếp nhận hơn 1.000 tàu cá trong và ngoài tỉnh Thanh Hóa là một trong ba cảng cá kiểu mẫu, hạ tầng ở đây đã có những cải thiện. Hệ thống camera giám sát tàu cá ra vào được tích hợp các tính năng AI là một bước tiến lớn. Từ Thanh Hóa, ban quản lý cảng cá có thể nắm bắt thông tin về tàu cá của địa phương đang hoạt động tại các tỉnh phía Nam như Cà Mau.
Ông Đinh Tiến Đạt - Phụ trách Cảng cá Lạch Bạng, tỉnh Thanh Hóa nêu ý kiến: "AI sẽ tích hợp ghi nhận việc tàu thuyền ra vào, tích hợp lên hệ thống về mắt thần biển số tàu, khi qua lại sẽ nhận diện tàu đó là tàu gì".
Để tháo gỡ lo ngại của ngư dân khi ghi nhật ký khai thác điện tử ngoài khơi xa, hệ thống eCDT và VNFishbase còn được thiết kế hoạt động song song ở chế độ online và offline, cho phép lưu dữ liệu khi mất sóng và tự động đồng bộ khi có tín hiệu, bảo đảm tính khả thi, công bằng và phù hợp với điều kiện thực tế trên biển.
Anh Trần Văn Phụng - Chủ tàu cá tỉnh Thanh Hóa tâm sự: "Trước chi ghi nhật ký bằng tay, sau này có ứng dụng này nhanh gọn hơn, nếu đạt yêu cầu thì các cán bộ cảng sẽ duyệt".
Cảng kiểu mẫu còn được quy hoạch từng phân khu gắn với từng mục đích sử dụng. Lần đầu tiên, tàu không đủ điều kiện có khu vực riêng. Ngoài ra, khu vực lên cá cũng có quy định.
Chỉ là một thay đổi nhỏ gắn với những tấm biển hiệu, nhưng lại có tác động lớn đến nhận thức của ngư dân trong việc xây dựng một nghề cá trở nên quy củ hơn, chuyên nghiệp hơn. Từ ba cảng cá kiểu mẫu, việc nhân rộng ra 51 cảng cá được chỉ định xác nhận nguồn gốc thuỷ sản cũng sẽ được triển khai mạnh trong năm 2026.
Sau cảng Lạch Bạng, tỉnh Thanh Hóa đã và đang tiến hành nhân rộng ra cảng Lạch Hới, Hòa Lộc và Hải Châu. Mục tiêu hệ thống cảng cá Việt Nam đến năm 2030 là xây dựng mạng lưới hiện đại, liên hoàn gồm 173 cảng cá và nhiều khu neo đậu, đảm bảo quản lý khai thác, truy xuất nguồn gốc và kết nối phát triển kinh tế biển theo hướng xanh và bền vững.
Trong khu vực ASEAN, Việt Nam được cho là một trong những quốc gia chịu tác động rõ nét và trực tiếp nhất từ chính sách Kinh tế biển xanh của EU.
Ông Trần Văn Công - Tham tán Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam tại Bỉ nhận định: "Việt Nam đang triển khai Nghị quyết 36 về phát triển kinh tế biển bền vững và trong đó có rất nhiều các điểm tương đồng với chiến lược Kinh tế biển xanh của EU. Đối với EU là khu vực mà có nhiều nguồn lực cũng như có kinh nghiệm và lợi thế trong phát triển về chuyển đổi năng lượng tái tạo, phát triển quản trị biển, có kinh nghiệm và nguồn lực để phát triển các khu bảo tồn, tái tạo nguồn lợi ven biển, nguồn lợi thủy sản. Để tận dụng cơ hội này, đối với hải sản Việt Nam trong thời gian tới, tập trung vào các biện pháp khai thác bền vững và phải tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu, quy định liên quan đến chống khai thác bất hợp pháp. Thứ hai, cần phải nâng cao các tiêu chuẩn liên quan đến phát triển bền vững, giảm phát thải, đặc biệt là sản xuất cũng như dán nhãn xanh. Các yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng cần phải được nâng cao. Thứ ba, các vấn đề liên quan đến tập trung phải minh bạch chuỗi cung ứng. Về lâu dài, hợp tác về Kinh tế biển xanh, chúng ta sẽ có cơ hội để phát triển kinh tế biển một cách bền vững. Đây cũng là một kế sách lâu dài để có trách nhiệm với thế hệ tương lai sau này".

EU là một trong những thị trường xuất khẩu thủy sản lớn của Việt Nam
Chiến lược Kinh tế biển xanh của các nước châu Á
Có một cuộc đua Kinh tế biển xanh trên toàn cầu, không chỉ châu Âu, mà Kinh tế biển xanh cũng trở thành chính sách phát triển tại một số nền kinh tế tại châu Á - châu lục sở hữu đường bờ biển dài nhất thế giới, tiếp giáp Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, nơi tập trung hơn 60% thương mại hàng hải toàn cầu.
Trong khi thế giới sử dụng thuật ngữ "Kinh tế biển xanh, Nhật Bản sử dụng khái niệm khác - Umigyo (có nghĩa là Kinh doanh dựa trên đại dương). Đây là sự tái cấu trúc ngành thủy sản truyền thống thành các ngành công nghiệp đại dương đa dạng và hiện đại.
Tại Ấn Độ, Kinh tế biển xanh được coi như một "Cuộc Cách mạng xanh lần thứ hai - tương tự như cuộc Cách mạng Xanh đã nâng cao sản lượng nông nghiệp trước đây.
Việt Nam là một trong số ít nước châu Á đưa Kinh tế biển bền vững lên tầm chiến lược quốc gia, thể hiện rõ nhất qua Nghị quyết số 36 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Theo đó, đến năm 2030, các ngành kinh tế biển sẽ đóng góp khoảng 10% GDP cả nước. Đến năm 2045, Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn.
Đại dương đang trở thành "không gian chiến lược mới" giống như đất liền trong thế kỷ 20. Vì vậy, việc phát triển Kinh tế biển xanh không phải là "làm những dự án xanh" mà là lựa chọn con đường phát triển cho cả một không gian chiến lược kéo dài trong nhiều thế hệ.
Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.