(Ảnh: Hải Nguyễn)
1,46 triệu tỷ đồng tín dụng được bơm vào nền kinh tế
Phát biểu tại hội thảo Hội thảo "Giải pháp phát triển bền vững thị trường vốn" do Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức, bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, đến ngày 13/7/2026, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 20,1 triệu tỷ đồng, tăng 7,86% so với cuối năm 2025.
Như vậy, chỉ trong hơn nửa đầu năm, hệ thống ngân hàng đã cung ứng thêm khoảng 1,46 triệu tỷ đồng cho nền kinh tế, góp phần hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng.
Tuy nhiên, lãnh đạo Vụ Tín dụng cảnh báo, hệ thống ngân hàng đang chịu áp lực ngày càng lớn trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế. Nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội năm 2026 dự kiến khoảng 5,1 triệu tỷ đồng và giai đoạn 2026-2030 lên tới 38,5 triệu tỷ đồng. Trong khi đó, tỷ lệ tín dụng/GDP năm 2025 đã ở mức khoảng 145%, cho thấy nền kinh tế vẫn phụ thuộc rất lớn vào vốn ngân hàng.
Đáng chú ý, nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng, năng lượng và công trình trọng điểm ngày càng tăng, trong khi nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn. Điều này làm gia tăng rủi ro chênh lệch kỳ hạn và tạo áp lực thanh khoản đối với hệ thống ngân hàng.
"Cần phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, để tạo kênh dẫn vốn trung và dài hạn hiệu quả cho nền kinh tế, qua đó giảm áp lực cung ứng vốn cho hệ thống ngân hàng", bà Hà Thu Giang nhấn mạnh.

Bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước (Ảnh: Hữu Thắng)
Cùng quan điểm, ông Nguyễn Sơn, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam cho rằng, một nền kinh tế hướng tới tăng trưởng hai con số nhưng vẫn phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro.
"Hiện quy mô tín dụng tương đương khoảng 146% GDP, trong khi vốn hóa thị trường cổ phiếu mới đạt khoảng 82% GDP. Đây là cấu trúc vốn chưa cân bằng so với thông lệ quốc tế", ông Nguyễn Sơn cho hay.
Theo ông Sơn, tại nhiều nền kinh tế, tín dụng ngân hàng chỉ chiếm khoảng 25–30% cơ cấu vốn, vốn đầu tư nước ngoài khoảng 15%, phần còn lại được cung ứng qua thị trường vốn, gồm cổ phiếu và trái phiếu. Đây là cấu trúc bền vững mà Việt Nam cần hướng tới trong giai đoạn đến năm 2030.
Tỷ lệ tín dụng/GDP ở mức 146% không hẳn quá cao nếu so với một số quốc gia trong khu vực, nơi con số này có thể đạt 170–190%. Tuy nhiên, tại các nền kinh tế đó, quy mô thị trường chứng khoán cũng tương xứng hoặc lớn hơn tín dụng.
"Trong khi đó, tại Việt Nam, tín dụng đã tương đương 146% GDP nhưng vốn hóa thị trường cổ phiếu mới đạt khoảng 82% GDP. Vấn đề cốt lõi vì vậy không phải tín dụng quá lớn, mà là thị trường vốn còn quá nhỏ", ông Hoàng Sơn phân tích.
Cần một thị trường chứng khoán đủ lớn
Phân tích về thị trường vốn, ông Hà Duy Tùng, Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho biết, đến ngày 30/6/2026, quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt khoảng 10,8 triệu tỷ đồng, tăng 6% so với cuối năm 2025 và tương đương 82,6% GDP ước tính năm 2025. Toàn thị trường có 54 doanh nghiệp đạt mức vốn hóa trên 1 tỷ USD, trong đó 4 doanh nghiệp vượt mốc 10 tỷ USD.
Quy mô thị trường trái phiếu niêm yết đạt khoảng 2,8 triệu tỷ đồng, tương đương 22,1% GDP. Tổng giá trị vốn huy động qua cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp trong 6 tháng đầu năm đạt 325.300 tỷ đồng, tăng 15,83% so với cùng kỳ năm 2025.
Ở góc độ xã hội, thị trường chứng khoán là kênh chuyển hóa nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư thành nguồn vốn đầu tư trực tiếp vào sản xuất, kinh doanh, qua đó giúp người dân cùng chia sẻ thành quả tăng trưởng của doanh nghiệp.
"Không thể có một nền kinh tế phát triển bền vững nếu thiếu một thị trường chứng khoán đủ lớn, đủ sâu và đủ mạnh", ông Tùng nói.

Ông Hà Duy Tùng, Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (Ảnh: Hữu Thắng)
Trước thực tế trên, TS. Cấn Văn Lực nhấn mạnh, thị trường vốn phải phát triển nhanh hơn để đáp ứng nhu cầu vốn trung, dài hạn và giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng.
Ông Lực kiến nghị ban hành một chương trình tổng thể về cải cách và phát triển thị trường tài chính, thống nhất các chiến lược đối với ngân hàng, chứng khoán, trái phiếu, bảo hiểm, tài chính số và tài chính xanh.
Theo TS. Cấn Văn Lực, quá trình phát triển thị trường tài chính cần dựa trên ba nền tảng cốt lõi: thể chế đáng tin cậy, thông tin và dữ liệu minh bạch, kỷ luật thị trường nghiêm minh.
Khơi thông nguồn lực cho thị trường vốn
Chi tiết hơn về các giải pháp cho thị trường vốn, ông Nguyễn Sơn, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam cho biết, đến năm 2030, Việt Nam có thể cần khoảng 1.500 tỷ USD vốn đầu tư, tương đương hơn ba lần GDP và khoảng 3,7 lần quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu hiện nay.
Và để đáp ứng nhu cầu này, cần đồng thời huy động nguồn lực trong nước và quốc tế.
Đối với vốn nước ngoài, Việt Nam phải tiếp tục tháo gỡ các rào cản tiếp cận thị trường, thực hiện đầy đủ các yêu cầu để nâng hạng theo chuẩn FTSE Russell từ tháng 9/2026, đồng thời hướng tới các tiêu chuẩn cao hơn của MSCI trong giai đoạn 2029–2030. Muốn vậy, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế cấp phép, kết nối xử lý lệnh tự động, mô hình đối tác bù trừ trung tâm và các hạ tầng giao dịch, thanh toán theo chuẩn quốc tế.

Ông Nguyễn Sơn, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam (Ảnh: Hữu Thắng)
Trong nước, ông Sơn chỉ ra nghịch lý cần được quan tâm là kinh tế Việt Nam tăng trưởng cao trong nửa đầu năm, nhưng diễn biến của thị trường vốn chưa phản ánh tương xứng. Một số ngành cơ bản, có vai trò cốt lõi với nền kinh tế, vẫn chịu áp lực giảm giá.
"Đây là vấn đề cần xử lý để khơi thông nguồn vốn cho nửa cuối năm và những năm tiếp theo", ông Sơn nêu quan điểm.
Tại đây, về phía cung, cần đẩy mạnh cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước tại những lĩnh vực Nhà nước không cần nắm giữ; tạo điều kiện cho các tập đoàn tư nhân thực hiện IPO; cho phép doanh nghiệp FDI phát hành cổ phiếu lần đầu gắn với niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Thị trường cũng cần phát triển thêm những sản phẩm mới như sàn giao dịch dành cho doanh nghiệp khởi nghiệp, trái phiếu cho các dự án đối tác công tư, trái phiếu xanh và những sản phẩm gắn với tiêu chuẩn ESG.
Ở phía cầu, Việt Nam hiện có khoảng 13,5 triệu tài khoản chứng khoán nhưng hơn 98% thuộc về nhà đầu tư cá nhân. Tỷ trọng này khiến thị trường dễ chịu tác động bởi tâm lý đám đông và biến động mạnh.
Vì vậy, cần phát triển mạnh các quỹ đầu tư, quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện và những định chế đầu tư dài hạn. Khi tỷ trọng nhà đầu tư tổ chức tăng lên, thị trường sẽ ổn định hơn, khả năng hấp thụ các đợt phát hành lớn cũng được cải thiện.
Để thị trường chứng khoán thực sự trở thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn chủ lực, Việt Nam phải đồng thời tăng nguồn cung hàng hóa có chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm và xây dựng cơ cấu nhà đầu tư chuyên nghiệp hơn.
Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.