Nghị quyết 26-NQ/TW – Cú hích để Lai Châu “đánh thức” giá trị du lịch

VTV.vn - Nghị quyết 26-NQ/TW mở ra cơ hội để Lai Châu chuyển lợi thế thiên nhiên, văn hóa thành sản phẩm du lịch khác biệt, nâng giá trị trải nghiệm và tạo sinh kế bền vững.

Lai Châu sở hữu cảnh quan núi non hùng vĩ, những cung đường giữa mây trời và hệ sinh thái tự nhiên giàu tiềm năng phát triển du lịch. Ảnh: Quốc Hưng

Lai Châu sở hữu cảnh quan núi non hùng vĩ, những cung đường giữa mây trời và hệ sinh thái tự nhiên giàu tiềm năng phát triển du lịch. Ảnh: Quốc Hưng

Có những vùng đất, chỉ cần đứng trên một cung đường núi, nhìn những tầng mây trôi ngang sườn dốc, nghe tiếng suối len qua thung lũng hay bước vào một bản làng còn giữ nguyên nếp nhà, trang phục, tiếng khèn, điệu múa… người ta đã hiểu vì sao du khách tìm đến.

Lai Châu là một vùng đất như thế.

Nhưng vẻ đẹp tự nhiên, dù kỳ vĩ đến đâu, không tự biến thành một ngành kinh tế. Một ngọn núi đẹp chưa phải là sản phẩm du lịch. Một bản làng có văn hóa đặc sắc cũng chưa đủ để giữ chân du khách qua đêm. Và một bức ảnh đẹp trên mạng xã hội không đồng nghĩa với việc người dân địa phương có thêm sinh kế.

Nghị quyết 26-NQ/TW – Cú hích để Lai Châu “đánh thức” giá trị du lịch - Ảnh 1.

Ruộng bậc thang không chỉ tạo nên cảnh quan đặc trưng vùng Tây Bắc mà còn có thể trở thành một phần của những trải nghiệm du lịch theo mùa. Ảnh: HD

Bài toán của Lai Châu hôm nay vì thế không còn đơn giản là làm sao để nhiều người biết đến địa phương, mà là làm thế nào để một chuyến đi đến Lai Châu trở thành một hành trình có đủ lý do để du khách ở lại lâu hơn, trải nghiệm nhiều hơn, chi tiêu nhiều hơn và muốn quay trở lại.

Trong bối cảnh Nghị quyết 26-NQ/TW về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ tăng trưởng về lượng sang nâng cao chất lượng, từ khai thác tài nguyên sang kiến tạo giá trị, Lai Châu đang đứng trước một thời điểm đặc biệt.

Cơ hội đã mở. Vấn đề là địa phương sẽ bước qua cánh cửa ấy bằng cách nào.

Từ những con số tăng trưởng đến câu hỏi: Vì sao khách chưa ở lâu?

Những năm gần đây, du lịch Lai Châu đã có bước chuyển đáng kể.

Giai đoạn 2021-2025, địa phương đón trên 5 triệu lượt khách, tổng doanh thu từ du lịch đạt hơn 3.800 tỷ đồng. Riêng 7 tháng đầu năm 2026, lượng khách đến tỉnh Lai Châu ước vượt 1,1 triệu lượt, doanh thu hơn 1.007 tỷ đồng.

Những con số ấy cho thấy sức hút của Lai Châu đang tăng lên. Các điểm đến được biết đến nhiều hơn, các sự kiện văn hóa - thể thao tạo hiệu ứng quảng bá, nhiều sản phẩm du lịch từng bước được hình thành. Những cung đường săn mây, những bản du lịch cộng đồng, các đỉnh núi cao, ruộng bậc thang, lòng hồ, hang động… ngày càng xuất hiện nhiều hơn trong hành trình khám phá Tây Bắc của du khách.

Nghị quyết 26-NQ/TW – Cú hích để Lai Châu “đánh thức” giá trị du lịch - Ảnh 2.

Lượng khách đến Lai Châu tăng lên trong những năm gần đây, mở ra dư địa lớn để địa phương nâng cao chất lượng và giá trị dịch vụ du lịch. Ảnh: Quốc Hưng

Nhưng phía sau con số tăng trưởng là một câu hỏi quan trọng hơn: du khách đến Lai Châu để làm gì và họ ở lại bao lâu?

Một phép tính đơn giản từ số liệu 7 tháng đầu năm cho thấy doanh thu bình quân mới khoảng 900 nghìn đồng trên một lượt khách. Con số này không thể dùng để đánh giá đầy đủ hiệu quả kinh tế của từng thị trường hay từng loại hình du lịch, nhưng đủ để gợi mở một vấn đề: khả năng giữ chân và gia tăng mức chi tiêu của du khách vẫn còn nhiều dư địa.

Một người đến Lai Châu, chụp vài bức ảnh ở một điểm đẹp, tham dự một sự kiện rồi tiếp tục hành trình sang địa phương khác rõ ràng chưa tạo ra giá trị tương xứng với tài nguyên mà địa phương đang sở hữu.

Một người ở lại hai, ba hoặc bốn đêm lại là câu chuyện khác.

Họ cần một phòng nghỉ. Họ ăn những món ăn địa phương. Họ thuê người dẫn đường, xe vận chuyển, tham gia một tour trekking, mua một sản phẩm OCOP, một món đồ thủ công, một gói dược liệu, một sản phẩm nông nghiệp. Họ có thể thuê trang phục dân tộc, tham gia lớp nấu ăn, trải nghiệm làm nghề truyền thống, đi thuyền trên lòng hồ, khám phá hang động hoặc dành một buổi tối ở bản để tìm hiểu đời sống cộng đồng.

Nghị quyết 26-NQ/TW – Cú hích để Lai Châu “đánh thức” giá trị du lịch - Ảnh 3.

Từ Ô Quy Hồ đến các bản vùng cao, Lai Châu cần kết nối những điểm đến riêng lẻ thành các hành trình đủ sức giữ chân du khách nhiều ngày. Ảnh: Quốc Hưng

Khi đó, một chuyến đi không chỉ tạo doanh thu cho doanh nghiệp du lịch. Nó lan sang hộ gia đình, người trồng chè, người làm dược liệu, nghệ nhân, người vận chuyển, chủ homestay, cơ sở ăn uống, người bán hàng thủ công và hàng loạt dịch vụ phía sau.

Đó mới là sức mạnh của du lịch với tư cách một ngành kinh tế.

Vì vậy, thay vì chỉ hỏi Lai Châu đón bao nhiêu khách, cần đặt thêm những câu hỏi khác: khách ở lại mấy đêm; chi bao nhiêu tiền; bao nhiêu phần trong khoản chi ấy ở lại địa phương; tỷ lệ khách quay trở lại thế nào; người dân có thực sự tăng thu nhập từ du lịch hay không?

Khi những chỉ số đó cùng đi lên, du lịch mới thực sự tạo ra sự thay đổi.

Không bán núi, rừng và bản làng – phải bán trải nghiệm Lai Châu

Lai Châu có một lợi thế mà không phải địa phương nào cũng sở hữu: sự hội tụ của thiên nhiên và văn hóa trong một không gian còn tương đối nguyên sơ.

Nghị quyết 26-NQ/TW – Cú hích để Lai Châu “đánh thức” giá trị du lịch - Ảnh 4.

Địa hình núi cao là lợi thế để Lai Châu phát triển trekking, leo núi, chạy địa hình và các sản phẩm du lịch khám phá. Ảnh: Quốc Hưng

Địa phương sở hữu bảy trong mười đỉnh núi cao nhất Việt Nam. Những dãy núi cao, rừng nguyên sinh, thác nước, hang động, suối khoáng, lòng hồ sông Đà cùng hệ thống bản làng tạo nên một không gian đặc biệt cho những người yêu thích khám phá.

Nhưng tài nguyên càng phong phú càng đòi hỏi cách tổ chức bài bản.

Nếu chỉ đưa du khách đến một điểm ngắm cảnh, chụp ảnh rồi trở về, giá trị tạo ra sẽ rất nhỏ. Nếu biến một ngọn núi thành hành trình khám phá có hướng dẫn, an toàn, câu chuyện, dịch vụ lưu trú và trải nghiệm văn hóa đi kèm, giá trị sẽ khác hẳn.

Tương tự, một bản làng sẽ khó trở thành sản phẩm chỉ bằng vài căn homestay được sửa sang đẹp mắt.

Du khách ngày nay không chỉ cần một nơi để ngủ. Họ muốn biết người dân trong bản sống như thế nào, ăn món gì, làm nghề gì, câu chuyện về ngôi nhà ra sao, mùa vụ diễn ra thế nào, những nghi lễ nào vẫn được gìn giữ. Họ muốn được tham gia chứ không chỉ đứng ngoài quan sát.

Đó là ranh giới giữa một điểm tham quan và một sản phẩm du lịch có chiều sâu.

Với Lai Châu, hướng đi phù hợp có thể là xây dựng những dòng sản phẩm mang dấu ấn rõ ràng: du lịch trekking, leo núi, chạy địa hình, dù lượn và thể thao mạo hiểm; nghỉ dưỡng núi cao, săn mây, chăm sóc sức khỏe; du lịch cộng đồng gắn với văn hóa các dân tộc; du lịch nông nghiệp, dược liệu và sinh thái; trải nghiệm theo mùa; du lịch lòng hồ, hang động và khám phá vùng biên.

Điều quan trọng là mỗi sản phẩm phải được "đóng gói" thành một sản phẩm có thể mua được.

Nghị quyết 26-NQ/TW – Cú hích để Lai Châu “đánh thức” giá trị du lịch - Ảnh 5.

Phát triển du lịch cộng đồng cần đặt người dân vào vị trí chủ thể, để lợi ích từ du lịch được lan tỏa trực tiếp tới các hộ gia đình. Ảnh: HD

Một cung trekking phải có người dẫn đường, lịch trình, phương án vận chuyển, điểm nghỉ, quy trình an toàn, bảo hiểm và cứu hộ. Một tour cộng đồng phải có lịch đón khách, thực đơn, hoạt động trải nghiệm, người thuyết minh và sản phẩm bán kèm. Một hành trình nghỉ dưỡng phải có dịch vụ chăm sóc sức khỏe, ẩm thực, trải nghiệm thiên nhiên và những hoạt động đủ hấp dẫn để du khách không muốn rời khỏi khu lưu trú.

Khi đó, câu chuyện "Lai Châu - Kỳ vĩ và bản sắc" không còn chỉ nằm trên pano, áp phích hay các chiến dịch quảng bá.

Nó hiện diện trong từng chặng đường.

Là cách một người bản địa kể câu chuyện về quê hương. Là món ăn được nấu từ nguyên liệu tại chỗ. Là chiếc khăn, chiếc túi, sản phẩm thủ công mà du khách mang về. Là buổi tối bên bếp lửa. Là con đường lên núi lúc bình minh. Là cảm giác được đặt chân vào một không gian khác với cuộc sống thường ngày.

Một thương hiệu điểm đến chỉ thực sự sống khi du khách có thể cảm nhận nó bằng tất cả các giác quan.

Từ những điểm đến rời rạc đến một hành trình có sức giữ chân

Một trong những hạn chế của du lịch Lai Châu hiện nay nằm ở sự phân tán.

Nơi có cảnh đẹp lại thiếu dịch vụ. Nơi có bản văn hóa lại chưa có nhiều hoạt động. Nơi có sản phẩm nông nghiệp đặc sắc chưa được đưa vào tour. Những cung đường hấp dẫn người ưa khám phá đôi khi thiếu hệ thống vận chuyển, hướng dẫn, liên lạc và cứu hộ. Một số điểm đến có thể rất hấp dẫn vào ban ngày nhưng gần như không có lý do để du khách ở lại khi trời tối.

Nghị quyết 26-NQ/TW – Cú hích để Lai Châu “đánh thức” giá trị du lịch - Ảnh 6.

Những bản làng còn lưu giữ kiến trúc, trang phục, phong tục và đời sống truyền thống tạo nên bản sắc riêng của du lịch Lai Châu. Ảnh: HD

Nếu mỗi điểm tự quảng bá, tự bán và tự phục vụ, rất khó tạo thành một hệ sinh thái.

Cách tiếp cận mới cần chuyển từ tư duy "điểm đến" sang "hành trình".

Một du khách đến Lai Châu không nhất thiết phải được giới thiệu mười điểm tham quan. Điều họ cần là một hành trình hoàn chỉnh kéo dài hai, ba hoặc bốn đêm, trong đó mỗi ngày có một trải nghiệm mới và các dịch vụ được kết nối liền mạch.

Có thể hình dung những cụm sản phẩm liên kết giữa Ô Quy Hồ, Cầu Kính, Sìn Thâu Chải, Tả Lèng; kết nối Khun Há, Bản Thẳm với động Pu Sam Cáp; xây dựng chuỗi trải nghiệm từ chợ đêm San Thàng đến Sin Suối Hồ; hoặc tổ chức hành trình ở cao nguyên Sìn Hồ gắn với bản làng, dược liệu, khí hậu và nghỉ dưỡng.

Những không gian giàu giá trị lịch sử, địa chất, cảnh quan cũng có thể được nghiên cứu để kết nối thành tuyến trải nghiệm, như khu vực Đền thờ Vua Lê Thái Tổ, Bia cổ hoài lai, sông Đà và vùng "rồng đá" Nậm Vời, trên cơ sở bảo đảm an toàn và yêu cầu bảo tồn.

Điều cần tránh là biến việc kết nối thành một danh sách dài các điểm check-in.

Một hành trình tốt phải có câu chuyện.

Nghị quyết 26-NQ/TW – Cú hích để Lai Châu “đánh thức” giá trị du lịch - Ảnh 7.

Từ một miền đất giàu tiềm năng đến điểm đến có sức cạnh tranh, Lai Châu cần biến tài nguyên, văn hóa và cộng đồng thành những sản phẩm đủ sức giữ chân du khách. Ảnh: HD

Du khách có thể bắt đầu bằng thiên nhiên, tiếp tục bằng văn hóa, sau đó trải nghiệm ẩm thực, nghỉ tại bản làng, mua sản phẩm địa phương và kết thúc bằng một hoạt động mang dấu ấn riêng.

Khi giao thông kết nối Lai Châu với các trung tâm du lịch lớn trong khu vực ngày càng thuận lợi, lợi thế về khoảng cách có thể trở thành con dao hai lưỡi. Khách đến nhanh hơn cũng có nghĩa họ có thể rời đi nhanh hơn.

Bởi vậy, giao thông chỉ là điều kiện mở cửa điểm đến. Thứ giữ chân khách phải là sản phẩm.

Đây cũng là lý do Đề án phát triển du lịch Lai Châu giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035 được tỉnh phê duyệt trong năm 2026 có ý nghĩa quan trọng. Vấn đề còn lại là biến định hướng thành những sản phẩm cụ thể, có doanh nghiệp đứng ra tổ chức, có cộng đồng tham gia và có thị trường tiêu thụ.

Khi người dân là chủ thể, dữ liệu là "la bàn" và màu xanh trở thành giá trị kinh tế

Nếu có một nguyên tắc quyết định sự bền vững của du lịch Lai Châu, đó là người dân phải nhìn thấy lợi ích thực tế từ việc bảo tồn quê hương mình.

Một bản du lịch không thể phát triển bền vững nếu người dân chỉ đứng ngoài phục vụ. Họ phải là những người tham gia vào chuỗi giá trị và được hưởng phần lợi ích xứng đáng.

Nghị quyết 26-NQ/TW – Cú hích để Lai Châu “đánh thức” giá trị du lịch - Ảnh 8.

Người dân địa phương làm ruộng bậc thang, tạo điểm nhấn thu hút du khách tham quan, trải nghiệm. Ảnh: HD

Một hộ có thể làm homestay. Hộ khác cung cấp thực phẩm. Người biết nghề truyền thống tổ chức trải nghiệm. Người trẻ làm hướng dẫn viên, vận hành dịch vụ vận chuyển, chụp ảnh, quay phim. Hợp tác xã tập hợp nông sản. Nghệ nhân truyền dạy nghề. Doanh nghiệp kết nối sản phẩm với thị trường.

Một bữa ăn ở bản vì thế không chỉ là tiền của một du khách trả cho một mâm cơm. Nó tạo đầu ra cho nông sản, thu nhập cho người nấu, người cung cấp nguyên liệu và những người làm dịch vụ liên quan.

Du lịch cũng có thể trở thành một "đầu ra mềm" cho kinh tế nông thôn. Chè, mật ong, trái cây, dược liệu, thổ cẩm, sản phẩm OCOP hay những mặt hàng thủ công nếu được đưa vào câu chuyện du lịch sẽ có cơ hội nâng giá trị.

Nghị quyết 26-NQ/TW – Cú hích để Lai Châu “đánh thức” giá trị du lịch - Ảnh 9.

Nông sản, chè và dược liệu địa phương có thể trở thành một phần của chuỗi giá trị du lịch, giúp nâng cao giá trị sản phẩm và tạo thêm sinh kế. Ảnh: HD

Nhưng muốn làm được điều đó, cộng đồng cần được hỗ trợ về vốn, kỹ năng, ngoại ngữ, thương mại điện tử, quản trị tài chính, vệ sinh an toàn thực phẩm, sơ cấp cứu và kỹ năng phục vụ.

Quan trọng hơn, phát triển du lịch không được biến văn hóa thành một màn trình diễn đơn thuần.

Bản sắc không phải thứ có thể dựng lên trong một đêm để phục vụ khách rồi cất đi sau khi đoàn xe rời bản. Văn hóa phải được tôn trọng, được cộng đồng làm chủ và được bảo tồn trong chính đời sống của cộng đồng.

Cùng với con người, dữ liệu sẽ là một nền tảng khác của du lịch Lai Châu trong giai đoạn mới.

Du lịch thông minh không nhất thiết bắt đầu bằng một ứng dụng mới. Nó có thể bắt đầu từ một hệ thống dữ liệu thống nhất: điểm đến ở đâu, mở cửa lúc nào, có những dịch vụ gì, phòng còn hay hết, thời tiết ra sao, cung đường có an toàn không, khách đến từ thị trường nào, họ chi tiêu cho những gì và phản hồi thế nào.

Một bản đồ số tích hợp điểm đến, cơ sở lưu trú, dịch vụ, thời tiết, cảnh báo an toàn, tuyến đường và các thông tin đa ngôn ngữ sẽ hữu ích hơn nhiều nếu được cập nhật thường xuyên và kết nối với những nền tảng mà du khách đang sử dụng.

Đối với trekking, leo núi và thể thao mạo hiểm, dữ liệu còn liên quan trực tiếp đến an toàn. Một hành trình được đăng ký trước, thông tin hướng dẫn viên và người dẫn đường được quản lý, cảnh báo thời tiết được cập nhật, vị trí được xác định khi cần cứu hộ sẽ giúp giảm đáng kể rủi ro.

Dữ liệu cũng giúp chính quyền nhìn thấy những gì trước đây khó đo đếm: mùa nào khách đông, thị trường nào có khả năng chi tiêu cao, điểm nào thường quá tải, dịch vụ nào bị phàn nàn, nơi nào thiếu phòng, sản phẩm nào bán chạy.

Khi đó, quyết định đầu tư và quảng bá có thể dựa trên bằng chứng thay vì cảm tính.

Và cuối cùng là màu xanh.

Nghị quyết 26-NQ/TW – Cú hích để Lai Châu “đánh thức” giá trị du lịch - Ảnh 10.

Người dân vùng cao đã và đang làm du lịch từ chính sản phẩm và bản sắc văn hóa của dân tộc. Ảnh: HD

Đối với Lai Châu, môi trường không chỉ là điều kiện để phát triển du lịch. Môi trường chính là một phần của sản phẩm.

Nếu rừng bị tổn thương, nguồn nước suy giảm, rác thải xuất hiện trên các cung núi, cảnh quan bị bê tông hóa hoặc bản làng mất đi vẻ nguyên bản, chính những yếu tố từng tạo nên sức hấp dẫn sẽ biến mất.

Phát triển xanh vì thế không thể chỉ dừng ở khẩu hiệu. Đó phải là cách quản lý rác thải, nước thải, sức chứa điểm đến, xây dựng công trình phù hợp cảnh quan, sử dụng tài nguyên có giới hạn và tạo ra lợi ích kinh tế đủ lớn để cộng đồng có động lực bảo vệ môi trường sống.

Một khu rừng được giữ lại hôm nay có thể trở thành giá trị du lịch trong nhiều năm tới. Một dòng suối sạch không chỉ phục vụ đời sống mà còn tạo nên trải nghiệm. Một bản làng giữ được kiến trúc và văn hóa truyền thống có thể trở thành tài sản thương hiệu mà không thể dễ dàng sao chép.

Không bỏ lỡ "thời điểm vàng"

Nghị quyết 26-NQ/TW mở ra một yêu cầu mới đối với ngành du lịch: không chỉ tăng trưởng về số lượng mà phải trở thành một hệ sinh thái kinh tế có khả năng lan tỏa tới thương mại, giao thông, nông nghiệp, công nghiệp văn hóa, kinh tế số và kinh tế đêm.

Nghị quyết 26-NQ/TW – Cú hích để Lai Châu “đánh thức” giá trị du lịch - Ảnh 11.

Với Lai Châu, bảo vệ rừng, nguồn nước và cảnh quan không chỉ là yêu cầu môi trường mà còn là cách bảo vệ chính tài sản du lịch của địa phương. Ảnh: Quốc Hưng

Đối với Lai Châu, điều này đồng nghĩa với việc không thể giao toàn bộ câu chuyện phát triển du lịch cho riêng ngành du lịch.

Ngành giao thông phải giải quyết kết nối. Ngành nông nghiệp phải đưa vùng nguyên liệu và sản phẩm địa phương vào chuỗi giá trị. Ngành công thương mở rộng thị trường. Khoa học và công nghệ hỗ trợ dữ liệu. Các lực lượng chức năng bảo đảm an ninh, an toàn. Chính quyền cơ sở đồng hành cùng cộng đồng. Doanh nghiệp tổ chức sản phẩm và đưa sản phẩm đến thị trường.

Mỗi nhiệm vụ cần có người chịu trách nhiệm, thời hạn và kết quả có thể đo đếm.

Tỉnh cũng cần lựa chọn một số sản phẩm chủ lực thay vì dàn trải nguồn lực cho quá nhiều mô hình. Mỗi sản phẩm được lựa chọn phải trả lời được bốn câu hỏi: khách nào sẽ mua, mua sản phẩm gì, ai tổ chức và người dân được hưởng lợi thế nào?

Đó cũng là cách để chuyển từ tư duy "làm du lịch" sang tư duy "kinh doanh du lịch".

Bởi cuối cùng, một điểm đến chỉ thực sự thành công khi thị trường trả tiền cho những giá trị mà địa phương tạo ra.

Lai Châu đang có những thứ mà nhiều nơi phải mất hàng chục năm để gây dựng: những đỉnh núi cao, những cung đường hiểm trở nhưng hấp dẫn, khí hậu đặc biệt, rừng, lòng hồ, hang động và một kho tàng văn hóa được hình thành qua đời sống của 20 dân tộc.

Nghị quyết 26-NQ/TW – Cú hích để Lai Châu “đánh thức” giá trị du lịch - Ảnh 12.

Hệ thống hang động, thác nước và cảnh quan tự nhiên là những tài nguyên có thể được kết nối thành các tuyến khám phá chuyên biệt. Ảnh: HD

Điều Lai Châu cần lúc này không phải là tìm thêm một tài nguyên mới, mà là học cách kể câu chuyện về những tài nguyên đang có bằng một ngôn ngữ hiện đại hơn; biến chúng thành sản phẩm chuyên nghiệp hơn và kết nối chúng thành những hành trình đủ sức giữ chân du khách.

Một ngày nào đó, giá trị của du lịch Lai Châu sẽ không còn được đo chủ yếu bằng số lượng người đi qua địa phương.

Giá trị ấy sẽ nằm ở số người quyết định ở lại thêm một đêm; ở khoản tiền họ dành cho một bữa ăn trong bản, một chuyến trekking, một sản phẩm dược liệu hay món đồ thủ công; ở việc người dân có thêm thu nhập mà không phải rời quê tìm việc; ở việc những cánh rừng được bảo vệ bởi chính cộng đồng; ở việc văn hóa không bị mai một mà trở thành nguồn lực để thế hệ trẻ tự hào và tiếp nối.

Khi một du khách rời Lai Châu với cảm giác mình vừa khám phá một miền đất khác biệt, và khi người dân nhìn thấy tương lai của gia đình mình gắn với việc gìn giữ miền đất ấy, du lịch mới thực sự tạo ra giá trị.

Nghị quyết 26-NQ/TW – Cú hích để Lai Châu “đánh thức” giá trị du lịch - Ảnh 13.

Hoa đỗ quyên trên núi PuTaLeng là điểm đến của nhiều người ưa mạo hiểm. Ảnh: HD

Nghị quyết 26-NQ/TW có thể mở ra một cánh cửa lớn.

Nhưng cánh cửa ấy chỉ trở thành con đường phát triển khi Lai Châu biết chọn đúng sản phẩm, tổ chức đúng không gian, trao đúng vai trò cho cộng đồng, để doanh nghiệp dẫn dắt, quản trị bằng dữ liệu và kiên định với nguyên tắc xanh.

Từ "miền đất tiềm năng" đến "điểm đến có sức cạnh tranh" là một khoảng cách không nhỏ.

Song với Lai Châu, hành trình ấy đã bắt đầu.

Và thời điểm để bước nhanh hơn, có lẽ chính là lúc này.

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bình luận không đăng nhập

Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.