Ngày 06/01/2026, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 19/QĐ-BVHTTDL, chính thức ghi danh "Tri thức trồng và chế biến nhãn lồng Hưng Yên" vào Danh mục quốc gia Di sản văn hóa phi vật thể. Đây là một dấu quan trọng, khẳng định nhãn lồng không chỉ là một loại nông sản thuần túy, mà là kết tinh của một hệ tri thức phức hợp. Đứng trước không gian liên kết vùng rộng lớn, hệ tri thức ấy đang được định vị qua lăng kính "Kinh tế học di sản", hướng tới trở thành di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
(Ảnh: Mạnh Cường)
Bề dày ngàn năm và "văn bản văn hóa" Phố Hiến
Trong kho tàng nông sản đặc hữu của Việt Nam, hiếm có sản vật nào mà bề dày lịch sử lại được minh chứng bằng một hệ thống tư liệu đa nguồn, xuyên suốt gần hai thiên niên kỷ như nhãn lồng Hưng Yên. Hành trình ấy bắt nguồn từ hạt nhãn được tìm thấy trong tầng văn hóa khảo cổ Động Xá (niên đại 2.000 - 2.500 năm), đến những dòng ghi chép về "long nhãn" như một cống phẩm dâng triều Đông Ngô đầu thế kỷ III, và rồi trở thành biểu tượng kiêu hãnh của thương cảng phồn hoa bậc nhất Đàng Ngoài gắn liền với câu phương ngôn: "Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến".
Trái tim của di sản này chính là cây nhãn Tổ ở chùa Hiến với niên đại hơn 300 năm. Về mặt hình thái, quả nhãn Tổ to tròn đều, vỏ màu vàng nâu nhạt, da láng bóng, cùi dày trắng ngà ráo nước xếp thành từng lớp ôm lấy hạt nhỏ đen nhánh. Hương vị ngọt thanh, giòn dai, thơm dịu mát của nó từng khiến nhà bác học Lê Quý Đôn phải thốt lên trong Vân đài loại ngữ: "Mỗi lần bỏ vào miệng thì tận trong răng lưỡi, đã nảy ra vị thơm tựa như nước thánh trời cho".
Dưới lăng kính di sản học thế kỷ 21, cây nhãn Tổ không chỉ là nguồn gen quý mà còn là "vật thiêng". Quả nhãn Tổ xưa kia được tuyển chọn để dâng cúng thần Phật, tiến vua – hành vi này đã nâng tầm giá trị nông nghiệp và ẩm thực thành "vật phẩm tâm linh", kết nối con người với thế giới siêu nhiên và tổ tiên. Từng tầng bậc kỹ thuật, bí quyết và kinh nghiệm trồng, chăm bón và chế biến nhãn cũng chuyển hoá thành hệ tri thức dân gian bản địa mang giá trị đạo đức sinh thái: người dân bảo vệ cây nhãn như bảo vệ mạch nguồn sự sống của xóm làng, tạo ra một "trường năng lượng" gắn kết cộng đồng và gắn kết con người với tự nhiên.

Cây nhãn tổ. (Ảnh: NAG Hoàng Diệu)
Mỗi bước trong chu trình "làm nhãn", từ ươm, ghép, chiết cành và chăm bón, tới "nuôi ong' và quay mật ong nhãn, và thu hái, xoáy long, sấy "nhãn ôm sen"…,đều kích hoạt ký ức văn hóa của cả một vùng đất – một "văn bản văn hóa" được viết bằng mồ hôi và trí tuệ của bao thế hệ cư dân Phố Hiến.
Hệ kỹ nghệ bản địa: Khi người nông dân là nghệ nhân thực thụ
Tri thức trồng và chế biến nhãn lồng không đơn thuần là việc gieo hạt, hái quả mà là một hệ kỹ nghệ bản địa vô cùng tinh vi, mang tính phức hợp giữa tự nhiên và văn hóa. Những người nông dân vùng châu thổ sông Hồng đã đúc kết được kinh nghiệm quý báu khi chọn đất bãi ven sông giàu phù sa để phát huy tối đa sự tương thích với hệ rễ cây nhãn. Quá trình nhân giống được thực hiện thông qua các phương pháp ươm hạt, chiết cành và ghép mắt nhằm duy trì trọn vẹn nguồn gen quý.
(Ảnh: Mạnh Cường)
Trong canh tác, người thợ trồng nhãn còn thể hiện sự am tường quy luật tự nhiên khi quan sát và học hỏi kỹ thuật khoanh cành từ những con xiến tóc, cắt tỉa để kích thích phân hóa mầm hoa dựa theo lịch tiết khí âm lịch và vận dụng sự hiểu biết về tự nhiên, sự thấu cảm với từng gốc nhãn để "điều chỉnh thời tiết cực đoan" (NN Bùi Xuân Tám), cho mùa vụ "luôn bội thu dù cả vùng có bị mất mùa" (NN Bùi Xuân Tám). Đồng thời, việc kết hợp tập quán nuôi ong để thụ phấn bổ sung là một thực hành phản ánh sự thấu hiểu sâu sắc về mối quan hệ sinh thái giữa cây trồng và côn trùng, hình thành từ rất lâu trước khi khái niệm "dịch vụ hệ sinh thái" trở nên phổ biến. Ngay cả tên gọi "nhãn lồng" cũng xuất phát từ kỹ thuật dùng tre, nứa đan thành giỏ để bao bọc, che chở buồng nhãn khỏi chim, dơi và sâu bệnh, thể hiện tư duy ứng xử nhân văn, nâng niu sản vật của người xưa.
Bước sang khâu chế biến, việc làm long nhãn (nhục nhãn) được xem là đỉnh cao của sự sáng tạo bản địa nhằm kéo dài vòng đời của sản vật vốn chỉ thu hoạch theo mùa vụ ngắn. Dù công nghệ đã trải qua ba thời kỳ – từ phơi nắng thủ công, sấy bằng lò than cho đến sấy hơi nước hay sấy lạnh hiện đại – thì cốt lõi tri thức vẫn nằm ở sự khéo léo của con người. Người "xoáy long"dùng một dụng cụ chuyên dụng (khía hai cạnh) để xoáy tách hạt sao cho không làm rách phần cùi. Bí quyết định đoạt chất lượng chính là kỹ thuật "đi lửa" – khả năng điều tiết nhiệt độ theo từng giai đoạn (định hình và diệt men, ổn định đường, rút ẩm sâu từ lõi) bằng cảm quan để cùi nhãn săn lại, giữ nguyên vị ngọt thanh và chuyển sang màu vàng mật ong đặc trưng.
(Ảnh: Mạnh Cường)
(Ảnh: Mạnh Cường)
Thức quà của đất trời: Từ y văn cổ truyền đến sự thăng hoa cùng ẩm thực
Trải qua hàng trăm năm, nhãn lồng đã vượt ra khỏi ranh giới của một món ăn vặt thân thuộc để trở thành một thức quà biếu tặng mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc. Cùng với giá trị ẩm thực, quả nhãn cũng là vị thuốc dân gian quý giá. Trong cuốn Y Tông Tâm Lĩnh, danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã ghi nhận công dụng của long nhãn trong việc bồi bổ tâm tỳ, an thần, chữa chứng hay quên và mất ngủ, đánh giá công hiệu của nó "ngang với vị Nhân sâm". Đến năm 1937, cuốn Hưng Yên địa chí do Trịnh Như Tấu biên soạn một lần nữa khẳng định danh tiếng vang xa của thức quả này.
(Ảnh: Mạnh Cường)
Sự đa dụng ấy ngày nay còn được nâng tầm qua những sáng tạo ẩm thực tinh tế như chè sen long nhãn, nhãn ôm sen hay kết hợp long nhãn Hưng Yên với yến sào. Thay vì sử dụng đường phèn, các đầu bếp dùng chính vị ngọt thanh và hương thơm dịu nhẹ của long nhãn sấy để chưng cùng tổ yến, tạo ra một món ăn đại bổ, tôn lên trọn vẹn hương vị thanh tao của đất trời.
Tầm nhìn "Kinh tế học di sản" trong bối cảnh mới
Kinh nghiệm quốc tế về các hệ thống di sản nông nghiệp quan trọng toàn cầu (GIAHS) của Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO), hay câu chuyện tri thức làm kimchi của Hàn Quốc đều minh chứng cho một quy luật chung: Di sản nông nghiệp - thực phẩm chỉ được bảo tồn bền vững khi cộng đồng thực hành được hưởng lợi ích kinh tế xứng đáng, ổn định từ chính hoạt động bảo tồn đó. Tại Việt Nam, những chỉ dẫn địa lý như "vải thiều Lục Ngạn", "chè Tân Cương" hay "nước mắm Phú Quốc" cũng đang đi theo quỹ đạo này.
Với nhãn lồng Hưng Yên, "Kinh tế học di sản" chính là chìa khóa để khai mở chuỗi giá trị đa tầng. Trong lĩnh vực sản phẩm, không chỉ dừng lại ở quả tươi hay long nhãn truyền thống, di sản cần được nâng tầm thông qua việc đa dạng hóa các sản phẩm chế biến sâu như: nhãn ôm sen sấy, mật ong hoa nhãn, rượu vang nhãn, và thậm chí là mỹ phẩm chiết xuất từ hạt nhãn.
Tại đây, vốn văn hóa sẽ được chuyển hóa thành nguồn lực kinh tế thông qua các hoạt động trải nghiệm thực tế: tour tham quan mùa hoa - mùa quả, du khách trực tiếp tham gia trải nghiệm lồng nhãn xoáy long nhãn, quay mật cùng nghệ nhân, thưởng thức bát chè sen long nhãn trứ danh và mang về những món quà tặng văn hóa mang đậm hồn cốt Phố Hiến.
(Ảnh: Mạnh Cường)
Khi người tiêu dùng và du khách chi trả cho một hệ sinh thái trải nghiệm thay vì chỉ mua một loại quả vặt, lợi ích kinh tế sẽ được san sẻ công bằng đến tận tay những nghệ nhân, đem lại giá trị bền vững. Đó chính là nền tảng khoa học và thực tiễn vững chắc nhất để Hưng Yên tự tin hướng tới việc xây dựng hồ sơ đệ trình UNESCO, để ghi danh hệ tri thức nhãn lồng trong Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.