Các sản phẩm làng nghề Ninh Bình ngày càng đa dạng về mẫu mã, hướng tới đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong nước và quốc tế. Ảnh: NT
Từ những khung cửi, lò đúc đến đường kim mũi chỉ
Sau hợp nhất, Ninh Bình có diện tích gần 4.000 km², dân số hơn 4,4 triệu người. Không gian phát triển được mở rộng cũng đồng nghĩa với việc tỉnh có thêm một hệ thống làng nghề, nghề truyền thống và sản phẩm đặc trưng phong phú, trải rộng từ vùng đồng bằng, ven sông đến khu vực ven biển và miền di sản.
Theo thống kê của tỉnh, Ninh Bình hiện có 171 làng nghề và làng nghề truyền thống, trong đó có 117 làng nghề, 54 làng nghề truyền thống và 9 nghề truyền thống. Các ngành nghề khá đa dạng, từ dệt lụa, thêu ren, đúc đồng, chạm khắc gỗ, chế tác đá mỹ nghệ đến làm cói, gốm, trống... Các làng nghề không chỉ tạo ra sản phẩm hàng hóa mà còn góp phần duy trì kỹ năng thủ công, tập quán và những giá trị văn hóa được trao truyền qua nhiều thế hệ.

Sản xuất tại làng nghề dệt lụa Nha Xá, phường Duy Tân. Ảnh: NT
Tại phường Duy Tân, tiếng máy dệt vẫn đều đặn vang lên trong những cơ sở sản xuất lụa Nha Xá. Những cuộn sợi tơ sau nhiều công đoạn được đưa lên khung, dệt thành những tấm lụa mềm, nhẹ, có độ bóng đặc trưng.
Nghề dệt lụa ở Nha Xá có lịch sử lâu đời, gắn với vùng đất bên sông Hồng. Theo tư liệu của ngành du lịch Ninh Bình, nghề dệt tại đây xuất hiện từ cuối thế kỷ XIII, đầu thế kỷ XIV và gắn với tên tuổi danh tướng Trần Khánh Dư. Trải qua hàng trăm năm, nghề đã nhiều lần thay đổi để thích ứng với thị trường.
Nếu trước đây người thợ chủ yếu dựa vào những khung cửi thủ công thì hiện nay máy móc đã được đưa vào nhiều công đoạn. Năng suất được nâng lên, mẫu mã cũng được điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu đa dạng hơn của khách hàng.
Tuy nhiên, máy móc không thể thay thế hoàn toàn kinh nghiệm của người làm nghề. Với lụa Nha Xá, chất lượng sợi, cách phối màu, kỹ thuật dệt và khâu hoàn thiện vẫn là những yếu tố quyết định giá trị sản phẩm.
Theo ông Nguyễn Tiến Quảng, Chủ tịch Hiệp hội Sản xuất và kinh doanh lụa Nha Xá, giữ nghề trong điều kiện hiện nay không chỉ là duy trì cách làm truyền thống. Người sản xuất phải giữ chất lượng, bảo đảm đặc trưng của sản phẩm, đồng thời liên tục cải tiến mẫu mã, đa dạng hóa sản phẩm để đáp ứng thị trường.
Cách làm này cũng đang diễn ra tại làng nghề đúc đồng Tống Xá. Với lịch sử gần 900 năm, Tống Xá được biết đến như một trong những cái nôi của nghề đúc đồng truyền thống. Tương truyền, thiền sư Nguyễn Minh Không đã truyền dạy kỹ thuật đúc đồng cho người dân nơi đây. Từ những sản phẩm phục vụ đời sống, người thợ từng bước phát triển kỹ thuật để chế tác tượng, chuông, khánh, đỉnh, hạc và nhiều sản phẩm mỹ nghệ, đồ thờ tự.
Một sản phẩm đúc đồng hoàn chỉnh phải trải qua nhiều công đoạn, từ tạo mẫu, làm khuôn, nấu nguyên liệu, rót đồng đến sửa nguội, chạm khắc và hoàn thiện.
Trong những công đoạn ấy, máy móc có thể hỗ trợ người thợ nâng cao năng suất, nhưng kinh nghiệm và sự khéo léo vẫn giữ vai trò quan trọng, nhất là khi xử lý hoa văn, đường nét và những chi tiết đòi hỏi độ chính xác cao.
Đó cũng chính là phần giá trị khó có thể thay thế của làng nghề: kỹ thuật được tích lũy qua nhiều thế hệ và được chuyển hóa thành sản phẩm có dấu ấn riêng.
Khi làng nghề trở thành một phần của hành trình du lịch
Nếu Nha Xá có lợi thế từ nghề dệt, Tống Xá nổi tiếng với nghề đúc đồng thì Văn Lâm lại có một điều kiện đặc biệt: nằm giữa không gian du lịch Tam Cốc - Bích Động.
Nghề thêu ren Văn Lâm được các tư liệu địa phương ghi nhận có lịch sử hơn 700 năm. Tương truyền, nghề được truyền dạy cho người dân từ thời Trần. Trước đây, người thợ chủ yếu làm các sản phẩm phục vụ trang phục, nghi lễ và đời sống văn hóa. Ngày nay, các sản phẩm đã đa dạng hơn, từ tranh thêu, khăn trải bàn, rèm cửa đến chăn, ga, gối, quần áo và đồ trang trí.

Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống được giữ gìn qua nhiều thế hệ. Ảnh: NT
Giữa không gian của núi đá, sông nước và những tuyến tham quan, các khung thêu ở Văn Lâm tạo nên một điểm dừng có màu sắc rất riêng. Du khách không chỉ mua một sản phẩm thủ công mà còn có thể quan sát người thợ làm việc, tìm hiểu cách một đường kim, mũi chỉ tạo nên sản phẩm hoàn chỉnh.
Đây chính là hướng phát triển mà nhiều làng nghề đang hướng tới: biến quá trình sản xuất thành một phần của sản phẩm du lịch.
Nghệ nhân Vũ Thanh Luân cùng các hộ làm nghề tại Văn Lâm vừa duy trì kỹ thuật truyền thống, vừa điều chỉnh mẫu mã, kích thước sản phẩm để phù hợp hơn với nhu cầu của khách hàng. Khi khách du lịch trở thành một phần của thị trường, câu chuyện về nghề, người thợ và sản phẩm cũng trở thành một phần của giá trị hàng hóa.
Thực tế, phát triển du lịch làng nghề đang được Ninh Bình xác định là một hướng đi để vừa bảo tồn nghề truyền thống, vừa tạo thêm sinh kế. Nhiều làng nghề trên địa bàn đã bắt đầu chuyển hướng sang các mô hình trải nghiệm, trong đó có việc để du khách trực tiếp tìm hiểu quy trình sản xuất và mua sản phẩm tại nơi làm ra sản phẩm.

Du khách quốc tế tìm hiểu các sản phẩm tại Công ty TNHH thêu ren Mặt trời xanh, phường Nam Hoa Lư. Ảnh: NT
Với Ninh Bình, hướng đi này có ý nghĩa đặc biệt khi hệ thống làng nghề phân bố trên một không gian rộng, trong đó nhiều làng nghề nằm gần các trung tâm du lịch, di sản và tuyến giao thông kết nối vùng.
Từ Văn Lâm có thể mở rộng câu chuyện sang cói Kim Sơn, đá mỹ nghệ Ninh Vân, gốm Bồ Bát, chạm khắc gỗ và nhiều ngành nghề khác. Mỗi nơi có một sản phẩm, một kỹ thuật, một câu chuyện văn hóa riêng. Nếu được kết nối thành các tuyến, điểm trải nghiệm, những giá trị tưởng như chỉ tồn tại trong phạm vi một làng có thể trở thành một phần của chuỗi sản phẩm du lịch.
Từ sản phẩm làng nghề đến thương hiệu trên thị trường
Thách thức lớn nhất đối với các làng nghề hiện nay không còn chỉ là giữ nghề, mà là làm thế nào để sản phẩm sống được trong một thị trường ngày càng cạnh tranh.
Một sản phẩm đẹp nhưng thiếu thương hiệu, bao bì, thông tin nguồn gốc hoặc kênh phân phối ổn định sẽ rất khó mở rộng thị trường. Vì vậy, câu chuyện của làng nghề đang dần chuyển từ "giữ nghề" sang "giữ nghề bằng thị trường".
Đây cũng là lý do Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) được kỳ vọng tạo thêm động lực cho các chủ thể sản xuất.

Trung tâm Xúc tiến Đầu tư và Thương mại tỉnh và các doanh nghiệp tham gia Chương trình tuần hàng OCOP tại Huế. Ảnh: NT
Đến nay, Ninh Bình có 1.001 sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên, gồm 7 sản phẩm 5 sao, 155 sản phẩm 4 sao và 839 sản phẩm 3 sao. Trong 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh có thêm 4 sản phẩm được công nhận đạt chuẩn OCOP 5 sao.
Đáng chú ý, trong số các sản phẩm 5 sao mới có Bộ chăn chần thêu hoa mai của Công ty TNHH Thêu Ren Mặt Trời Xanh, một sản phẩm gắn trực tiếp với nghề thêu truyền thống tại phường Nam Hoa Lư. Điều này cho thấy nghề thủ công truyền thống hoàn toàn có thể bước vào những phân khúc thị trường có yêu cầu cao hơn nếu được đầu tư đúng hướng.
OCOP không chỉ là câu chuyện về một tấm giấy chứng nhận. Quá trình tham gia chương trình buộc các chủ thể phải quan tâm nhiều hơn đến tiêu chuẩn chất lượng, bao bì, nhãn hiệu, truy xuất nguồn gốc, câu chuyện sản phẩm và khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường.
Đó cũng là những yêu cầu đang được đặt ra đối với các làng nghề.
Từ sản xuất thủ công, nhiều cơ sở đã quan tâm hơn đến thương mại điện tử, mã QR, truy xuất nguồn gốc và các nền tảng bán hàng trực tuyến. Theo cơ quan chuyên môn của tỉnh, hàng trăm sản phẩm của các cơ sở đã được hỗ trợ đưa lên các sàn thương mại điện tử, qua đó mở thêm kênh tiếp cận người tiêu dùng bên ngoài địa bàn.

Kết nối làng nghề với du lịch mở thêm cơ hội quảng bá sản phẩm và tạo đầu ra cho các cơ sở sản xuất. Ảnh: NT
Cùng với thị trường trong nước, một số sản phẩm của Ninh Bình đã tham gia chuỗi cung ứng và tiếp cận các thị trường quốc tế. Những sản phẩm như rau quả chế biến Đồng Giao, gạo chất lượng cao, thủy sản chế biến hay các sản phẩm cói, đá mỹ nghệ, đồ gỗ, dệt may... đang từng bước được đưa ra thị trường ngoài nước.
Vấn đề đặt ra là làm sao để những sản phẩm ấy không chỉ "đi xa" mà còn tạo được giá trị gia tăng cao hơn.
Muốn vậy, mỗi làng nghề cần một chiến lược riêng nhưng nằm trong một hệ sinh thái chung: sản xuất gắn với tiêu chuẩn; sản phẩm gắn với thương hiệu; làng nghề gắn với du lịch; OCOP gắn với xúc tiến thương mại và thương mại điện tử.
Với 171 làng nghề, hơn 102.500 cơ sở ngành nghề nông thôn và gần 193.000 lao động, khu vực ngành nghề nông thôn đang là một bộ phận đáng kể của kinh tế địa phương. Giá trị sản xuất của ngành nghề nông thôn được tỉnh thống kê khoảng 25.393 tỷ đồng mỗi năm; thu nhập bình quân của lao động đạt khoảng 5,5-6 triệu đồng/người/tháng.
Những con số ấy cho thấy làng nghề không chỉ là câu chuyện của ký ức hay bảo tồn văn hóa. Đó còn là sinh kế, là việc làm và là một phần của kinh tế nông thôn.

Sản phẩm thủ công truyền thống được kết hợp giữa kỹ thuật lâu đời và cách làm mới, tạo thêm giá trị cho sản phẩm làng nghề. Ảnh: NT
Không gian phát triển mới của Ninh Bình đang mở ra cơ hội để các vùng nghề bổ trợ cho nhau. Nha Xá có lụa, Tống Xá có nghề đúc đồng, Văn Lâm có thêu ren; Kim Sơn có cói, Ninh Vân có đá mỹ nghệ... Mỗi sản phẩm mang theo một câu chuyện về vùng đất và con người.
Bài toán phía trước vì thế không chỉ là giữ lại một nghề truyền thống, mà là làm cho nghề ấy tiếp tục sống trong đời sống hiện đại.
Giữ chất lượng, giữ tay nghề, đổi mới mẫu mã, xây dựng thương hiệu và tìm được thị trường ổn định. Khi những giá trị truyền thống được kết nối với du lịch, OCOP, công nghệ số và thương mại hiện đại, những làng nghề lâu đời có thể tìm thấy một không gian phát triển mới, vừa giữ được bản sắc, vừa tạo thêm giá trị cho người dân và cho chính vùng đất đã nuôi dưỡng nghề qua nhiều thế hệ.
Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.