
Thu hoạch hoa ở Đà Lạt.
Cả một ngành công nghiệp phía sau mỗi cành hoa
Trong một nhà kính ở Đà Lạt, Lâm Đồng nhiệt độ được giữ ổn định từng độ C. Hệ thống tưới, ánh sáng, dinh dưỡng vận hành tự động. Người trồng không còn phụ thuộc hoàn toàn vào kinh nghiệm như trước.
Chị Lê Thị Đoan Trang, người có hơn 25 năm trồng hoa, nói chăm hoa giống như chăm một đứa trẻ. "Chỉ cần lơ là, cây có thể bệnh ngay". Nhưng giờ đây, việc chăm sóc không chỉ dựa vào quan sát, mà có thêm công nghệ hỗ trợ. Hoa không còn trồng trên đất. Nhiều trang trại chuyển sang trồng trên máng theo công nghệ Israel. Từ tưới tiêu, nhiệt độ, độ ẩm, đều được căn đo và điều chỉnh bằng máy tính.
Sau thu hoạch, hoa được đưa vào chuỗi lạnh nhiều tầng, từ 8 độ xuống 2 độ C. Anh Đỗ Văn Dương, kỹ thuật viên tại Đà Lạt, gọi đó là quá trình "cho hoa ngủ". Sau 2–3 tuần vận chuyển trên những container xuất khẩu qua đường biển, hoa đến kệ các siêu thị ở thị trường nước ngoài vẫn giữ được độ tươi như lúc cắt. Đây là điều trước đây khó có thể làm được.
Không chỉ bảo quản, ngay cả màu sắc cũng có thể thay đổi. Hàng triệu bông hoa được nhuộm bằng cách cho hút màu qua thân. Cách làm này tạo ra sản phẩm đồng đều, đáp ứng nhu cầu thị trường.
Song song đó, nhiều trang trại sử dụng thiên địch thay cho thuốc trừ sâu. Lượng hóa chất giảm đáng kể, có nơi giảm đến 60–70%. Doanh nghiệp này còn thu mua cả công ty giống hoa lớn ở nước ngoài để chủ động đầu vào, đồng thời nắm bắt được nguồn cung của các thị trường khác thông qua theo dõi dữ liệu họ mua giống hoa.
Tại Công ty sản xuất hoa lớn nhất tại Lâm Đồng là Dalat Hasfarm, mỗi năm riêng doạnh nghiệp này cung ứng khoảng 600 triệu cành hoa và 450 triệu ngọn giống hoa ra thị trường. Doanh thu khoảng 80 triệu USD. Hơn một nửa trong số đó xuất khẩu đi các nước. Một trang trại hoa rộng 250 ha ở Đà Lạt phải huy động hơn 3.000 lao động cho vụ hoa Tết hàng năm. Trong đó có khoảng 1.000 người làm thời vụ để kịp tiến độ thu hoạch.
Đầu tư hạ tầng quy mô lớn
Các dự án nông nghiệp công nghệ cao của tập đoàn THACO cho thấy cách tiếp cận khác. Nông nghiệp không bắt đầu từ cây trồng, mà từ hạ tầng. Tại các khu liên hợp ở Campuchia, dễ thấy nhất không phải là vườn cây. Đó là mặt bằng được san gạt, đường nội bộ, hồ chứa nước và hệ thống điện quy mô lớn và đồng bộ. Đây là nền tảng để sản xuất vận hành ổn định quanh năm.
Ông Trần Bảo Sơn, Tổng giám đốc THACO AGRI, cho biết nông nghiệp quy mô lớn chỉ bền vững khi kiểm soát được hạ tầng. Doanh nghiệp phải giải bài toán nước, điện và tổ chức vận hành trước khi nghĩ đến cây trồng.
Thực tế triển khai không đơn giản. Tại Kratie, dự án phải xử lý hàng nghìn ha cao su kém hiệu quả. Ở Ratanakiri, nhiều diện tích cọ dầu cũng phải chuyển đổi. Song song đó, các vùng trồng chuối, xoài, bưởi được mở rộng hàng nghìn ha. Tuy nhiên, chuối chỉ là phần dễ nhìn thấy. Phía sau là cả hệ thống trồng trọt, chăn nuôi, chế biến và logistics.
Quy mô vận hành thể hiện qua nhân sự và vật nuôi. Đàn bò được phát triển lên hàng trăm nghìn con. Tổng lao động dự kiến khoảng 40.000 người, chủ yếu là lao động địa phương. Người lao động được đào tạo, ký hợp đồng và bố trí chỗ ở. Họ trở thành một phần trong chuỗi vận hành. Nông nghiệp ở đây không còn là câu chuyện của từng hộ, mà là một hệ thống.
Khác với hai mô hình trên, tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai chọn cách tiếp cận thực tế hơn. Doanh nghiệp tập trung vào hiệu quả tài chính. Sau nhiều biến động, Hoàng Anh Gia Lai quay lại với nông nghiệp. Mô hình kết hợp trồng cây chủ lực với chăn nuôi và chế biến. Nhờ đó, doanh nghiệp duy trì doanh thu lớn và ổn định.
Điểm khác biệt không nằm ở quy mô lớn nhất. Mà là khả năng kiểm soát chi phí và đầu ra. Nông nghiệp ở đây được nhìn như một bài toán kinh tế.

Dây chuyền sản xuất của Thaco Agri
Hai nền nông nghiệp song song
Trong khi các mô hình lớn phát triển, nhiều địa phương vẫn duy trì sản xuất nhỏ lẻ. Những câu chuyện quen thuộc vẫn lặp lại: Được mùa nhưng mất giảm. Nông sản ùn ứ. Hoa đến 30 Tết không bán hết, phải bỏ giữa chợ.
Nhiều nông dân trồng hoa ở Đồng Tháp nói mùa vụ thường trồng xong mới nghĩ bán cho ai. Điều này cho thấy sản xuất vẫn tách rời thị trường. Trong khi đó, các doanh nghiệp lớn sản xuất theo đơn hàng. Họ biết trước bán cho ai, giá bao nhiêu, chủ động từ khâu vận chuyển, xuất khẩu đến hệ thống phân phối trong nước. Khoảng cách giữa hai cách làm ngày càng rõ. Sự chuyển dịch này đặt ra áp lực lớn cho người sản xuất nhỏ. Nếu không thay đổi, nguy cơ bị bỏ lại là rõ ràng.
Một hướng đi đang được nhắc đến là liên kết. Nông dân tham gia hợp tác xã hoặc kết nối với doanh nghiệp. Sản xuất theo tiêu chuẩn và theo nhu cầu thị trường.
Chị Nguyễn Mai Phương, người làm trong ngành hoa ở Đà Lạt, cho rằng đam mê không còn đủ. "Nông nghiệp hiện nay cần kiến thức và công nghệ. Người làm nông phải không ngừng học hỏi, cập nhật, ứng dụng khoa học hiện đại".
Từ những cánh đồng hoa ở Đà Lạt đến các khu liên hợp hàng nghìn ha, nông nghiệp Việt Nam đang đổi cách vận hành. Công nghệ và quy mô đang trở thành yếu tố quyết định. Đó sẽ vừa là cơ hội, động lực thúc đẩy nền nông nghiệp hiện đại phát triển, vừa là thách thức với đa phần mô hình sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ phải thay đổi, tiến bộ để đứng vững trên thị trường.
Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.