Số hóa vùng trồng, minh bạch nguồn gốc nông sản

VTV.vn - Trước yêu cầu chứng minh nguồn gốc cà phê xuất khẩu, Sơn La đang số hóa tọa độ, ranh giới từng lô sản xuất để quản lý vùng trồng bằng dữ liệu.

Đây là những thông tin cần thiết khi doanh nghiệp phải chứng minh nguồn gốc nguyên liệu, đáp ứng các quy định ngày càng chặt chẽ của thị trường xuất khẩu. Riêng tại xã Nậm Lầu, hơn 3.432 ha cà phê với trên 13.030 lô sản xuất đã được thu thập dữ liệu.

Cùng với việc lập bản đồ vùng trồng, tỉnh Sơn La chú trọng chuẩn hóa, cập nhật thông tin sản xuất, phục vụ kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc nông sản.

Số hóa diện tích, vị trí và nguồn gốc vùng trồng

Với hơn 44.000 ha cà phê, Sơn La là một trong những vùng sản xuất cà phê Arabica lớn của cả nước. Trước yêu cầu của thị trường xuất khẩu, đặc biệt là quy định của Liên minh châu Âu về sản phẩm không gây mất rừng (EUDR), việc xác định chính xác vị trí, ranh giới và nguồn gốc vùng trồng đang được chú trọng.

Sơn La: Số hóa vùng trồng, minh bạch nguồn gốc nông sản  - Ảnh 1.

Mùa cà phê bung nở hoa trắng trên nương đồi xã Chiềng Mai, tỉnh Sơn La.

Tỉnh Sơn La đã thí điểm thu thập, số hóa dữ liệu gần 61.000 ha cà phê, với 19.508 lô sản xuất tại hai xã Nậm Lầu và Mường Chanh. Thông tin về vị trí địa lý, diện tích, ranh giới và hiện trạng vùng trồng được cập nhật, phục vụ quản lý vùng nguyên liệu, kiểm tra nguồn gốc sản phẩm.

Tại xã Nậm Lầu, việc thu thập dữ liệu được triển khai đến từng lô cà phê, gắn với thông tin về diện tích và hiện trạng sản xuất của hộ dân. Ông Cầm Bun Lộc, Chủ tịch UBND xã Nậm Lầu, tỉnh Sơn La, cho biết địa phương đã thu thập dữ liệu trên 3.432 ha cà phê, với hơn 13.030 lô sản xuất.

Theo ông Cầm Bun Lộc, cơ sở dữ liệu giúp chính quyền địa phương nắm rõ diện tích, vị trí và ranh giới vùng trồng, thuận lợi trong đối chiếu thông tin, quản lý sản xuất và từng bước đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc.

Việc số hóa tại Nậm Lầu và Mường Chanh là bước đầu để tỉnh Sơn La xây dựng dữ liệu vùng nguyên liệu cà phê. Ngoài xác định diện tích, vị trí sản xuất, thông tin thu thập còn phục vụ rà soát hiện trạng sử dụng đất, đối chiếu nguồn gốc vùng trồng theo yêu cầu của thị trường.

Ông Trần Dũng Tiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La, thông tin địa phương đang duy trì 169 mã số vùng trồng trên diện tích hơn 2.200 ha, gồm 152 mã phục vụ xuất khẩu và 17 mã phục vụ tiêu thụ nội địa.

Theo đó, toàn bộ 169 mã số đã được cập nhật, đồng bộ lên cơ sở dữ liệu quốc gia. Ngành Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La cũng đã cấp tài khoản nhật ký sản xuất điện tử cho các vùng trồng được cấp mã, đồng thời hướng dẫn người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp sử dụng hệ thống để cập nhật thông tin sản xuất.

Việc cấp tài khoản tạo điều kiện chuyển dần từ ghi chép thủ công sang quản lý thông tin trên môi trường số. Tuy nhiên, để dữ liệu phục vụ hiệu quả việc truy xuất nguồn gốc, các vùng trồng cần duy trì cập nhật nhật ký sản xuất, thông tin vật tư sử dụng, chăm sóc và thu hoạch.

Ông Nguyễn Đình Việt, Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La, xác định chuyển đổi số trong nông nghiệp phải gắn với thay đổi phương thức quản lý, khai thác dữ liệu phục vụ sản xuất và điều hành. Tỉnh Sơn La tập trung xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu về đất đai, rừng, mã số vùng trồng và sản phẩm OCOP, tiến tới kết nối, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý.

Thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW và Nghị quyết 71/NQ-CP, tỉnh Sơn La đặt mục tiêu đến năm 2030 số hóa ít nhất 80% cơ sở dữ liệu ngành nông nghiệp và môi trường, kết nối với cơ sở dữ liệu Trung ương.

Từ cơ sở dữ liệu đến truy xuất và quản lý thị trường

Để mở rộng việc số hóa vùng trồng, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La tổ chức 50 lớp tập huấn tại 27 xã, phường về khảo sát, thu thập, cập nhật thông tin và xây dựng cơ sở dữ liệu vùng trồng cà phê.

Các học viên được hướng dẫn sử dụng phần mềm Open Foris Ground, xác định tọa độ GPS, khoanh vẽ ranh giới, ghi nhận diện tích, hiện trạng sản xuất và chụp ảnh thực địa. Việc thực hành được tổ chức trực tiếp tại vùng trồng để cán bộ địa phương nắm được quy trình thu thập, kiểm tra và cập nhật thông tin.

Sơn La: Số hóa vùng trồng, minh bạch nguồn gốc nông sản  - Ảnh 3.

Theo kế hoạch, các địa phương tiếp tục rà soát, thu thập dữ liệu, phấn đấu hoàn thành việc cập nhật thông tin toàn bộ diện tích cà phê trên địa bàn tỉnh Sơn La trước ngày 30/12/2026. Quá trình này kết hợp đối chiếu hiện trạng vùng trồng với thông tin đất đai, phục vụ quản lý và xác định những diện tích cần kiểm tra về điều kiện sản xuất, nguồn gốc đất.

Bà Lưu Thanh Nga, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La, cho rằng yêu cầu chuẩn hóa dữ liệu sản xuất phải gắn với tổ chức lại vùng nguyên liệu theo nhu cầu thị trường. Thông tin về sản xuất, chất lượng và nguồn gốc nông sản cần được quản lý thống nhất, tạo điều kiện tăng cường liên kết giữa người trồng, hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ.

Việc quản lý thông tin vùng nguyên liệu đã được triển khai trong chuỗi sản xuất cà phê. Công ty cổ phần Phúc Sinh Sơn La liên kết với 876 hộ dân, xây dựng 671,4 ha cà phê ứng dụng công nghệ cao. Vùng nguyên liệu được xác lập tọa độ GPS, ranh giới canh tác; thông tin sản xuất được ghi nhận trên sổ tay nông hộ điện tử phục vụ quản lý chất lượng và truy xuất nguồn gốc.

Anh Vũ Ngọc Huy, Công ty cổ phần Phúc Sinh Sơn La, cho biết việc cập nhật nhật ký sản xuất và kết nối thông tin với hệ thống quản lý tại nhà máy giúp doanh nghiệp theo dõi chất lượng nguyên liệu, xác định nguồn gốc từng lô sản phẩm.

Thực tế này cho thấy truy xuất nguồn gốc không chỉ là việc gắn tem hoặc mã QR lên sản phẩm. Thông tin về vùng trồng, quy trình chăm sóc, thu hoạch và chế biến phải được cập nhật đầy đủ để doanh nghiệp có cơ sở kiểm soát chất lượng, đáp ứng yêu cầu của đối tác.

Sơn La: Số hóa vùng trồng, minh bạch nguồn gốc nông sản  - Ảnh 5.

Để thống nhất việc quản lý truy xuất nguồn gốc, UBND tỉnh Sơn La đã ban hành Kế hoạch số 111/KH-UBND ngày 28/4/2026 về triển khai, áp dụng và quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc giai đoạn 2026-2030.

Theo ông Nguyễn Đình Việt, Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La, kế hoạch tập trung xây dựng, chuẩn hóa dữ liệu sản phẩm, hàng hóa để tích hợp vào kho dữ liệu của tỉnh Sơn La. Đến năm 2030, địa phương phấn đấu ít nhất 90% sản phẩm OCOP đạt 4 sao và 100% sản phẩm OCOP đạt 5 sao áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc.

Đối với sản xuất nông nghiệp, cơ sở dữ liệu không chỉ phục vụ kiểm tra nguồn gốc sản phẩm mà còn cung cấp thông tin về diện tích, mùa vụ, năng suất và sản lượng. Đây là những dữ liệu cần thiết để cơ quan quản lý theo dõi sản xuất, doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch thu mua, chế biến và tiêu thụ.

Ông Trần Dũng Tiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La, xác định việc cập nhật và khai thác dữ liệu phải phục vụ trực tiếp công tác quản lý vùng trồng, kiểm soát chất lượng và kết nối thị trường. Ngành Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La đang phối hợp với các cơ quan chuyên môn, địa phương hướng dẫn sử dụng nhật ký điện tử, hoàn thiện thông tin vùng sản xuất và triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản.


Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bình luận không đăng nhập

Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.