Trước áp lực dịch bệnh, biến đổi khí hậu và chi phí đầu vào ngày càng tăng, nhiều cơ sở chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản tại Thanh Hóa đang thay đổi phương thức sản xuất. Công nghệ tự động, quy trình nuôi nhiều giai đoạn và các giải pháp sinh học được đưa vào nhằm chủ động kiểm soát môi trường, giảm rủi ro và nâng hiệu quả sản xuất.

Mô hình nuôi tôm trong hệ thống ao lót bạt, kết hợp nhà lưới và các thiết bị hỗ trợ kiểm soát môi trường. Ảnh: TTKN
Những lợi thế cũng đi cùng với không ít thách thức. Biến đổi khí hậu, thời tiết bất thường, dịch bệnh và nguy cơ ô nhiễm nguồn nước làm gia tăng rủi ro trong sản xuất. Chi phí thức ăn, con giống và các yếu tố đầu vào tăng, trong khi yêu cầu về chất lượng, an toàn sản phẩm ngày càng cao.
Vì vậy, nâng hiệu quả sản xuất không chỉ là tăng sản lượng, mà còn phải kiểm soát tốt hơn môi trường, dịch bệnh và chi phí ngay trong quá trình nuôi.
Nuôi tôm công nghệ cao, kiểm soát từ môi trường đến thức ăn
Tại xã Hải Châu, một số cơ sở nuôi tôm thẻ chân trắng đang chuyển sang quy trình nuôi nhiều giai đoạn, kết hợp ao lót bạt, nhà màng, nhà lưới với các thiết bị tự động.
Máy cho ăn giúp kiểm soát lượng thức ăn theo nhu cầu của đàn tôm. Hệ thống xi phông tự động hỗ trợ đưa chất thải ra khỏi ao, giảm lượng chất hữu cơ tích tụ và hạn chế việc người nuôi phải trực tiếp xuống ao.

Thiết bị cho ăn tự động được sử dụng nhằm kiểm soát lượng thức ăn và nâng hiệu quả trong quá trình nuôi tôm. Ảnh: TTKN
Theo ông Hồ Văn Dương, Giám đốc Công ty TNHH Anh Quân, trước đây việc hút chất bẩn dưới ao phải thực hiện trực tiếp, vừa tốn nhân công, vừa tiềm ẩn nguy cơ lây chéo bệnh. Khi đưa hệ thống xi phông tự động vào quy trình, việc xử lý chất thải chủ động hơn, đồng thời giảm thao tác thủ công.
Máy cho ăn cũng giúp cơ sở kiểm soát lượng thức ăn đưa xuống ao. Khi tôm ăn kém hoặc xuất hiện thức ăn dư, người nuôi có thể dừng cho ăn để kiểm tra tình trạng đàn tôm, qua đó hạn chế lãng phí thức ăn và tác động bất lợi đến môi trường nước.
Cùng với thiết bị tự động, các giải pháp sinh học cũng được đưa vào quy trình nuôi. Theo ông Dương, cơ sở sử dụng giải pháp kháng khuẩn thay thế kháng sinh trong phòng bệnh đường ruột, kết hợp với chế phẩm sinh học trong quá trình nuôi. Sau khoảng hai năm áp dụng, cơ sở đánh giá giải pháp này cho hiệu quả tích cực.
Quy trình nuôi được tổ chức thành 2 - 3 giai đoạn, trong đó các yếu tố về môi trường và dịch bệnh được kiểm soát chặt hơn. Năng suất tại mô hình đạt khoảng 25 - 40 tấn/ha/vụ.
Tuy nhiên, nuôi tôm công nghệ cao cũng đòi hỏi mức đầu tư lớn hơn. Cơ sở phải đồng bộ từ ao nuôi, hệ thống xử lý nước, con giống, thức ăn, chế phẩm sinh học đến thiết bị và nhân lực vận hành. Người lao động cũng cần được đào tạo để theo dõi các thông số và xử lý những tình huống phát sinh trong quá trình nuôi.
Bên cạnh hướng công nghệ cao, tại các vùng triều của Thanh Hóa, những mô hình nuôi tôm sinh thái, hữu cơ và tuần hoàn cũng đang được quan tâm. Một số mô hình nuôi xen ghép tôm sú với cua, cá và rong câu, tận dụng điều kiện tự nhiên để tạo thêm giá trị trên cùng diện tích.
Dù lựa chọn công nghệ cao hay sinh thái, các mô hình đều hướng đến việc kiểm soát tốt hơn môi trường, hạn chế dịch bệnh và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong sản xuất.
Chăn nuôi gà, kiểm soát môi trường từ chuồng nuôi
Tại xã Định Tân, Công ty Cổ phần GASAVI tổ chức chuỗi trang trại chăn nuôi gà với quy mô từ 10 - 12 vạn con. Với quy mô này, kiểm soát chất thải và môi trường chuồng nuôi không chỉ liên quan đến vệ sinh mà còn gắn với việc phòng ngừa dịch bệnh.
Từ khoảng năm 2017 - 2018, doanh nghiệp bắt đầu thử nghiệm chế phẩm vi sinh EM để làm đệm lót sinh học và xử lý mùi từ chất thải chăn nuôi. Sau quá trình thử nghiệm, giải pháp tiếp tục được duy trì tại trang trại.

Trang trại chăn nuôi gà quy mô lớn tại xã Định Tân, Thanh Hóa. Ảnh: TTKN
Theo ông Lê Duy Liêm, Giám đốc Công ty Cổ phần GASAVI, men vi sinh được đưa vào đệm lót sinh học và phun trực tiếp trong chuồng để xử lý mùi phân. Tần suất xử lý được điều chỉnh theo thời tiết và lượng phân phát sinh. Vào mùa hè, việc xử lý có thể thực hiện định kỳ khoảng một tháng một lần; khi mưa hoặc lượng phân tăng, việc bổ sung được thực hiện sớm hơn.
Giải pháp này không chỉ được áp dụng tại trang trại của doanh nghiệp mà còn được chuyển giao cho các hộ liên kết trong chuỗi.
Tại hộ anh Vũ Văn Hùng, xã Định Tân, với quy mô hơn 2.000 con gà, việc vệ sinh, sát khuẩn kết hợp sử dụng chế phẩm vi sinh để xử lý đệm lót giúp môi trường chuồng nuôi thông thoáng hơn, hạn chế ảnh hưởng của khí độc đến đàn gà, đồng thời góp phần kiểm soát tình trạng bệnh và hao hụt. Việc xử lý chất thải ngay tại chuồng cũng cho phép tận dụng nguồn phân sau xử lý làm phân bón hữu cơ cho cây trồng.
Như vậy, kiểm soát môi trường không còn là khâu xử lý sau khi chất thải phát sinh, mà được đưa vào ngay trong quy trình chăm sóc đàn vật nuôi, gắn với phòng bệnh và quản lý chi phí.
Từ từng mô hình đến yêu cầu đổi cách sản xuất
Nuôi tôm và chăn nuôi gà có điều kiện sản xuất khác nhau, nhưng hai mô hình cùng cho thấy một xu hướng: chủ động kiểm soát rủi ro ngay trong quá trình sản xuất, thay vì chờ phát sinh dịch bệnh hoặc ô nhiễm mới xử lý.

Hệ thống cung cấp thức ăn tự động trong chuồng nuôi gà, hỗ trợ kiểm soát quá trình chăm sóc đàn. Ảnh: TTKN
Ở ao tôm, thiết bị tự động giúp kiểm soát thức ăn, chất thải; các giải pháp sinh học được sử dụng để hỗ trợ quản lý môi trường và dịch bệnh. Trong chuồng gà, chế phẩm vi sinh được đưa vào đệm lót nhằm xử lý chất thải và hạn chế mùi hôi ngay tại nguồn.
Định hướng phát triển của ngành nông nghiệp Thanh Hóa cũng đặt ra yêu cầu phát triển hài hòa giữa nuôi tôm công nghệ cao và nuôi sinh thái, lựa chọn mô hình phù hợp với điều kiện tự nhiên, nguồn lực và lợi thế của từng vùng.
Với các mô hình nuôi tôm công nghệ cao, bên cạnh diện tích nuôi, việc bố trí ao chứa nước, ao lắng, ao xử lý nước và ao xử lý chất thải có ý nghĩa quan trọng trong kiểm soát môi trường. Cùng với đó là tăng cường ứng dụng máy cho ăn tự động, thiết bị quan trắc môi trường, xi phông tự động và các giải pháp sinh học nhằm nâng hiệu quả sử dụng đầu vào.
Để các mô hình có thể nhân rộng, công nghệ cần đi cùng tổ chức sản xuất theo vùng, kiểm soát chất lượng con giống, chuyển giao kỹ thuật và liên kết giữa doanh nghiệp với người dân. Cùng với đó, chuyển đổi số trong quản lý môi trường, dữ liệu sản xuất và truy xuất nguồn gốc được xem là một trong những giải pháp hỗ trợ kiểm soát tốt hơn quá trình sản xuất.
Từ ao nuôi đến chuồng trại, thực tế tại các mô hình cho thấy hiệu quả sản xuất ngày càng gắn với khả năng quản lý môi trường, dịch bệnh và chi phí, bên cạnh quy mô đàn nuôi hay sản lượng thu được.
Theo ông Trần Duy Bình, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thanh Hóa, ngành Khoa học - Công nghệ tỉnh xác định là cầu nối giữa nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân và đã chuyển từ tư duy quản lý các nhiệm vụ khoa học công nghệ sang tư duy kiến tạo hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Chuyển từ hỗ trợ chính sách sang đặt hàng để các bài toán thực tiễn giúp cho người dân phát triển khoa học công nghệ trong sản xuất kinh doanh.
Đây là cơ sở để Thanh Hóa tiếp tục lựa chọn, hoàn thiện và nhân rộng những mô hình phù hợp với từng vùng sản xuất, từng đối tượng vật nuôi, qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất, tăng giá trị sản phẩm và chủ động hơn trước những rủi ro trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản.
Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.