Từ “vàng xanh” đến ngành kinh tế chiến lược: Bài toán nâng tầm dược liệu Việt

VTV.vn - Muốn biến dược liệu thành ngành kinh tế chiến lược, Việt Nam không chỉ cần trồng nhiều hơn mà phải bán được giá trị cao hơn.

(Ảnh: Báo Chính phủ)

(Ảnh: Báo Chính phủ)

Nhấn mạnh tại buổi làm việc với Đảng ủy Bộ Y tế về công tác y học cổ truyền Việt Nam vào tháng 5/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, phải đặt phát triển Y học cổ truyền trong tổng thể chiến lược phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, nhất là chiến lược phát triển con người Việt Nam, chiến lược bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, chiến lược phát triển công nghệ sinh học, công nghiệp dược liệu và kinh tế sức khỏe quốc gia.

“Cần phát triển ngành công nghiệp dược liệu thành một ngành kinh tế chiến lược quốc gia, bởi sự đa dạng về sinh học và nguồn dược liệu quý chính là nguồn tài nguyên quốc gia, là lợi thế cạnh tranh chiến lược của Việt Nam”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị.

Từ “vàng xanh” đến ngành kinh tế tỷ đô: Bài toán nâng tầm dược liệu Việt - Ảnh 1.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh mục tiêu phát triển ngành công nghiệp dược liệu thành một ngành kinh tế chiến lược quốc gia

Theo báo cáo của Bộ Y tế, Việt Nam có nguồn tài nguyên dược liệu phong phú với hơn 5.100 loài thực vật, 408 loài động vật và 75 khoáng vật làm thuốc; khoảng 70 loài có tiềm năng nuôi trồng quy mô lớn như quế, hồi, nghệ, atiso…

Nhu cầu tiêu thụ trong nước ở mức cao với mạng lưới y học cổ truyền rộng khắp và 243 nhà máy sản xuất thuốc, trong đó có 96 nhà máy dược liệu, thuốc cổ truyền. Tuy nhiên, ngành dược liệu vẫn phát triển nhỏ lẻ, chất lượng chưa đồng đều, công nghệ chế biến hạn chế, sức cạnh tranh quốc tế chưa tương xứng tiềm năng, đặc biệt là nếu so với quốc gia trong khu vực như Trung Quốc, Hàn Quốc hay Nhật Bản.

Đang ở bậc thang giá trị thấp nhất

Phân tích về ngành kinh tế dược liệu, trao đổi với Thời báo VTV, PGS.TS Trần Văn Ơn – nguyên Trưởng Bộ môn Thực vật, Trường Đại học Dược Hà Nội, cố vấn cao cấp Chương trình OCOP (Mỗi xã Một Sản phẩm) đưa ra khái niệm bậc thang giá trị (value ladder).

Tại đây, bậc thang thấp nhất là bán nguyên liệu thô. Bậc thang tiếp theo là bán nguyên liệu chuẩn hóa; sản phẩm sơ chế và chế biến truyền thống. Các bậc thang tiếp theo chuyển từ kinh tế nguyên liệu sang kinh tế giá trị, gồm bán các sản phẩm chăm sóc, bảo vệ sức khỏe và làm đẹp; và cao hơn nữa là sản phẩm chế biến sâu, tạo ra tinh chất, hoạt chất, dược phẩm nơi giá trị tập trung ở khoa học – công nghệ.

Bậc thang tiếp theo chuyển từ bán sản phẩm sang bán trải nghiệm là dịch vụ liên quan đến dược liệu như du lịch sức khỏe, du lịch điều trị nơi tài nguyên dược liệu và văn hóa, cảnh quan được khai thác; và bậc thang cao nhất là tri thức và sở hữu trí tuệ nơi chủ thể kiểm soát tri thức kiểm soát chuỗi giá trị, điều mà PGS.TS Trần Văn Ơn nhấn mạnh rất khó và căn cơ mới có thể đạt được.

Từ “vàng xanh” đến ngành kinh tế tỷ đô: Bài toán nâng tầm dược liệu Việt - Ảnh 2.

PGS.TS Trần Văn Ơn – nguyên Trưởng Bộ môn Thực vật, Trường Đại học Dược Hà Nội, cố vấn cao cấp Chương trình OCOP

Với Việt Nam, theo PGS.TS Trần Văn Ơn, ngành kinh tế dược liệu Việt Nam đang chủ yếu nằm ở bậc thang thấp nhất khi chủ yếu bán nguyên liệu thô.

“Mình đã bán được cao chiết xuất chuẩn hóa hay tinh chất đâu. Ngoài ra là một chút của các sản phẩm về sức khỏe, ví dụ như thực phẩm chức năng, mỹ phẩm, một số thuốc Y học cổ truyền. Chúng ta đang manh nha một số sản phẩm dịch vụ về dược liệu ở tầng cao hơn nhưng với quy mô bé và manh mún nếu so với thế giới”, PGS.TS Trần Văn Ơn nhận định.

Lý giải về nguyên nhân cho khoảng cách giữa tiềm năng lớn về tài nguyên dược liệu và giá trị thực tế của ngành dược liệu mang lại, PGS.TS Trần Văn Ơn cho rằng điều này chủ yếu nằm ở tư duy phát triển.

Theo chuyên gia này, khi nói đến dược liệu, hầu hết mọi người nghĩ ngay đến đó là một ngành phụ trợ cho ngành y, có nghĩa là tạo ra thuốc để chữa bệnh. Chính tư duy này đã và đang đẩy ngành dược liệu vào thế khó.

Về vấn đề này, PGS.TS Trần Văn Ơn chỉ ra mô hình “tháp thảo dược” với 2 nhánh là nhánh sản phẩm và nhánh dịch vụ. Nhánh sản phẩm có tầng đáy là các sản phẩm hàng hóa cơ bản như thực phẩm, đồ ăn, đồ uống có lợi cho sức khỏe… Chuyên gia này nhận định, tầng đáy này tiềm năng giá trị mang lại rất lớn nhưng chưa có sự quan tâm đúng mức.

“Để phát triển các sản phẩm trong tầng này, điều kiện sản xuất cũng không quá khó khi chỉ cần vài tỷ đồng có thể đầu tư nhà xưởng cũng như chỉ cần đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm trong khi nhu cầu thị trường là rất lớn”, PGS.TS Trần Văn Ơn phân tích.

Với tầng thứ hai là các sản phẩm bảo vệ sức khỏe và hỗ trợ điều trị, làm đẹp ví dụ thực phẩm chức năng, mỹ phẩm… tầng này quy mô thị trường nhỏ hơn và cũng khó làm hơn. Như thực phẩm chức năng, muốn tham gia thị trường cần nhà máy đạt tiêu chuẩn GMP - WHO với vốn đầu tư vài chục tỷ đồng trở lên.

Từ “vàng xanh” đến ngành kinh tế tỷ đô: Bài toán nâng tầm dược liệu Việt - Ảnh 3.

Việt Nam có lợi thế với hơn 5.000 cây thuốc và dược liệu song ngành chủ yếu đang bán nguyên liệu thô

Và tầng cuối cùng trong nhánh sản phẩm của “tháp thảo dược” là thuốc, theo PGS.TS Trần Văn Ơn đây là tầng khó nhất, thị trường nhỏ nhất, cũng như khó làm nhất. Bởi muốn sản xuất thuốc cần phải đạt hàng loạt các tiêu chuẩn ngặt nghèo về chất lượng, nhà xưởng với đầu tư rất lớn. Ngoài ra, sự cạnh tranh từ các tập đoàn dược nước ngoài khiến doanh nghiệp nội rất khó để có chỗ đứng trong tầng dược liệu này.

“Do đó nếu chỉ nghĩ phát triển dược liệu thành thuốc chữa bệnh hay xem dược liệu là ngành phụ trợ cho y tế, chúng ta đang tự giới hạn cũng như làm khó mình và vì vậy khó đạt được theo chỉ đạo của TBT Tô Lâm là phát triển ngành công nghiệp dược liệu thành một ngành kinh tế chiến lược quốc gia”, PGS.TS Trần Văn Ơn nêu quan điểm.

Cần tìm ra lợi thế của chính mình

Từ những phân tích trên, PGS.TS Trần Văn Ơn thể hiện sự tâm đắc với chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về định hướng phát triển ngành công nghiệp dược liệu thành một ngành kinh tế chiến lược quốc gia.

“Tôi rất tâm đắc với chỉ đạo này, bởi nó thể hiện một tầm nhìn thực sự đi vào bản chất của vấn đề”, PGS.TS Trần Văn Ơn nhấn mạnh.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, PGS.TS Trần Văn Ơn cho rằng không nên coi dược liệu là ngành phụ trợ cho ngành y tế hay một nhánh của ngành nông nghiệp nữa. Thay vào đó là phát triển dược liệu trở thành một ngành kinh tế độc lập. Tại đây, chúng ta cần tìm ra lợi thế của mình. Sau đó khai thác lợi thế này để tạo ra giá trị cho khách hàng và người sử dụng, từ đó kiếm tiền từ chính những giá trị này.

Theo PGS.TS Trần Văn Ơn, lợi thế lớn nhất của ngành dược liệu Việt Nam là hơn 5.000 loại cây thuốc và dược liệu cộng với điều kiện khí hậu đầy nắng và mưa, phù hợp để phát triển các vùng nguyên liệu. Song chính lợi thế này cũng đặt ra vấn đề là lựa chọn loại dược liệu để tập trung phát triển.

PGS.TS Trần Văn Ơn cho biết, trước đó đã có chủ trương tập trung phát triển 100 loại dược liệu. Song ông đặt vấn đề liệu chúng ta có đủ nguồn lực để phát triển 100 loại dược liệu này?

“Cần phải hài hòa giữa mong muốn và nguồn lực, tránh tình trạng dược liệu nào cũng là mũi nhọn xong cuối cùng thành “gai mít”. Như Hàn Quốc, nước này tập trung nguồn lực rất lớn cho sản phẩm sâm”, ông Trần Văn Ơn phân tích.

Từ “vàng xanh” đến ngành kinh tế tỷ đô: Bài toán nâng tầm dược liệu Việt - Ảnh 4.

Theo PGS.TS Trần Văn Ơn, quế là một trong các loại dược liệu Việt Nam cần đẩy mạnh phát triển

Ông cho rằng nên lựa chọn và tập trung nguồn lực phát triển không quá 10 cây thuốc mà Việt Nam có lợi thế. Lấy ví dụ quế, PGS.TS Trần Văn Ơn nhấn mạnh, loại dược liệu này Việt Nam đã rất nổi tiếng trên thị trường thế giới. Trung Quốc coi quế Thanh Hóa là quế hảo hạng nhất.

“Việt Nam có 200.000 ha quế, liên quan đến 200.000 hộ gia đình. Vùng nguyên liệu đã đủ lớn, danh tiếng đã có, dân đã quen thuộc cách trồng trọt, vấn đề là chúng ta phát triển các sản phẩm, dịch vụ trên loại dược liệu này trên từng bậc thang của “tháp dược liệu” và từng bước nâng bậc thang giá trị”, PGS.TS Trần Văn Ơn cho biết.

Hay như gấc, theo PGS.TS Trần Văn Ơn, trên thế giới có hẳn một từ là “Gac fruit”. Điều này giúp chúng ta tiết kiệm được hàng trăm thậm chí hàng nghìn tỷ để định nghĩa sản phẩm trên thị trường.

Nói về chiến lược phát triển ngành dược liệu, theo PGS.TS Trần Văn Ơn cho rằng những năm gần đây đã có những thay đổi mang tính tích cực thay vì chỉ tập trung phát triển thuốc như trước kia. Ông lấy ví dụ trong 6 nhóm ngành hàng của chương trình OCOP có riêng một ngành dược liệu và sản phẩm từ dược liệu, từ đây đã tạo ra hàng ngàn sản phẩm OCOP có nguồn gốc từ dược liệu.

PGS.TS Trần Văn Ơn cho biết, với chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, chúng ta đã có chiến lược rõ ràng để phát triển ngành dược liệu là trở thành ngành công nghiệp chiến lược. Tuy nhiên việc thực thi, cụ thể hóa chiến lược là vô cùng quan trọng. Để phát triển ngành dược liệu tiến từng bước trên bậc thang giá trị hay tháp thảo dược không phải là câu chuyện của đơn ngành.

“Để phát triển ngành công nghiệp dược liệu thành một ngành kinh tế chiến lược quốc gia cần sự vào cuộc của đa ngành từ y tế, nông nghiệp, khoa học công nghệ, công thương, du lịch, văn hóa… Cùng với đó là sự chỉ đạo tập trung, thống nhất”, PGS.TS Trần Văn Ơn nhấn mạnh.

Từ “vàng xanh” đến ngành kinh tế tỷ đô: Bài toán nâng tầm dược liệu Việt - Ảnh 5.

Để phát triển ngành công nghiệp dược liệu thành một ngành kinh tế chiến lược quốc gia cần sự vào cuộc của đa ngành từ y tế, nông nghiệp, khoa học công nghệ, công thương, du lịch, văn hóa

Biến dược liệu thành ngành kinh tế chiến lược không thể chỉ bắt đầu từ những vùng trồng hay những cánh rừng dược liệu, mà phải bắt đầu từ cách nhìn mới về giá trị của tài nguyên này. Khi dược liệu được đặt trong hệ sinh thái rộng hơn của nông nghiệp, công nghệ sinh học, công nghiệp chế biến, y tế, du lịch và kinh tế sức khỏe, mỗi cây thuốc không chỉ còn là nguyên liệu đầu vào mà có thể trở thành một chuỗi giá trị hoàn chỉnh.

Tuy nhiên, để đi xa hơn trên bản đồ dược liệu thế giới, Việt Nam cần lựa chọn đúng lợi thế, tập trung nguồn lực và kiên trì xây dựng những sản phẩm mang thương hiệu quốc gia. Khi đó, “vàng xanh” mới thực sự chuyển hóa thành động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế, góp phần vào khát vọng tăng trưởng hai con số của đất nước.

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bình luận không đăng nhập

Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.