Trên những triền núi đá khô cằn, cán bộ xã Thuận Hòa kiên trì bám cơ sở, vận động người dân thay đổi tư duy sản xuất, từng bước chuyển đổi cây trồng phù hợp. Ảnh: Thu Biên
Từ những nương ngô cũ đến khát vọng đổi thay
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: "Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong". Trong công tác lãnh đạo, điều khó nhất không phải là ban hành một chủ trương, một nghị quyết, mà là làm sao để chủ trương ấy được người dân hiểu, tin và tự nguyện thực hiện.
Ở Thuận Hòa, xã vùng cao xa xôi của tỉnh Tuyên Quang, bài toán ấy từng đặt ra rất rõ khi địa phương bắt tay vào chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp.
Nằm giữa vùng núi đá với điều kiện tự nhiên còn nhiều khó khăn, trong nhiều năm, cây ngô và lúa nương vẫn là nguồn sinh kế chủ yếu của phần lớn hộ dân. Với đồng bào dân tộc Mông ở nhiều thôn vùng cao, đó không chỉ là cây trồng quen thuộc mà còn là tập quán sản xuất gắn bó qua nhiều thế hệ.

Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Đặng Thị Phượng cùng cán bộ Khuyến nông hướng dẫn người dân trồng cây Thanh Long tại thôn Pồng Trằm. Ảnh: Thu Biên
Thế nhưng, đất đai ngày càng bạc màu, sản xuất phụ thuộc nhiều vào thời tiết, nguồn nước thiếu ổn định khiến năng suất không cao. Không ít hộ gia đình vẫn loay hoay trong vòng luẩn quẩn của sản xuất nhỏ lẻ, thu nhập thấp và nguy cơ tái nghèo.
Từ thực tiễn ấy, Đảng ủy xã Thuận Hòa xác định muốn nâng cao đời sống người dân thì trước hết phải thay đổi tư duy sản xuất.
Ngày 18/3/2026, Ban Thường vụ Đảng ủy xã ban hành Nghị quyết số 19 về phát triển nông nghiệp hàng hóa giai đoạn 2026-2030, đặt mục tiêu chuyển đổi khoảng 100 ha diện tích ngô kém hiệu quả sang trồng thanh long tại các vùng đất khô hạn, từng bước hình thành vùng sản xuất tập trung.
Nhưng từ nghị quyết trên giấy đến những hàng thanh long xanh tốt ngoài thực địa là cả một chặng đường không dễ dàng.

Sau khi được tuyên truyền người dân trên địa bàn xã đã chuyển đổi diện tích cây ngô kém hiệu quả sang trồng cây Thanh Long. Ảnh: Thu Biên
Bởi với nhiều người dân, bỏ cây ngô để trồng một loại cây mới đồng nghĩa với chấp nhận thay đổi thói quen sản xuất đã tồn tại nhiều năm. Đằng sau sự dè dặt ấy là những băn khoăn rất thực tế: cây thanh long có phù hợp với đất đai địa phương hay không, đầu ra sản phẩm thế nào, vốn đầu tư lấy từ đâu, nếu thất bại thì ai chịu trách nhiệm?
Những câu hỏi ấy không thể được giải đáp chỉ bằng những cuộc họp hay những văn bản tuyên truyền. "Nhận thức rõ điều đó, cấp ủy, chính quyền xã xác định công tác dân vận phải đi trước một bước." – Đại diện Đảng ủy xã Thuận Hòa cho biết.
Từ đó, thay vì chỉ phổ biến chủ trương theo cách truyền thống, cán bộ, đảng viên đã trực tiếp xuống cơ sở, đến từng hộ dân để tuyên truyền, giải thích, phân tích hiệu quả kinh tế của cây thanh long. Quan trọng hơn, họ lắng nghe những băn khoăn, lo lắng của người dân để cùng tháo gỡ. Tại Thuận Hòa, quá trình vận động và dân vận không chỉ dừng lại ở lời nói.
Địa phương tổ chức cho người dân đến tận nơi tham quan các mô hình thanh long đã cho hiệu quả tại thôn Lũng Buông và Lũng Cáng. Những vườn cây xanh tốt, những hộ gia đình có nguồn thu ổn định từ loại cây trồng mới trở thành minh chứng trực quan hơn bất cứ lời thuyết phục nào.

Cán bộ chiến sỹ Ban Chỉ huy Quân sự xã hỗ trợ người dân vận chuyển trụ cột Thanh Long. Ảnh: Thu Biên.
Từ chỗ hoài nghi, nhiều người dân bắt đầu thay đổi suy nghĩ.
Ông Thèn Văn Sồ, thôn Lũng Buông là một trong những hộ tiên phong chuyển đổi. Trên diện tích 1,6 ha, gia đình ông hiện phát triển 1.600 trụ thanh long, mang lại thu nhập khoảng 150 triệu đồng mỗi năm.
Ông Sồ chia sẻ rằng thời điểm ban đầu, bản thân cũng không tránh khỏi tâm lý lo lắng vì chưa biết cây thanh long có phù hợp với điều kiện địa phương hay không. Tuy nhiên, sau khi được cán bộ hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ giống và trực tiếp tham quan các mô hình hiệu quả, gia đình quyết định mạnh dạn làm theo. Đến nay, cây phát triển tốt, mang lại nguồn thu ổn định và giúp đời sống gia đình cải thiện đáng kể.
Từ những hộ tiên phong như ông Sồ, hiệu quả kinh tế bắt đầu tạo ra sức lan tỏa.

Thành công từ mô hình cây Thanh Long của gia đình ông Thèn Văn Sồ tại thôn Lũng Buông mở ra hướng kinh tế mới. Ảnh: Thu Biên.
Hiện nay, tại thôn Pồng Trằm đã có 25 hộ tham gia trồng thanh long với diện tích 9.250 m². Thôn Khâu Mèng có 69 hộ đăng ký với diện tích trên 29.000 m².
Những con số ấy không đơn thuần phản ánh diện tích cây trồng mới được mở rộng mà còn cho thấy một sự chuyển biến quan trọng hơn: người dân đã bắt đầu tin vào hướng đi mới.
Ông Giàng Chuẩn Chư, thôn Pồng Trằm cho biết sau khi được cán bộ xã tuyên truyền và tham quan các mô hình thực tế, ông nhận thấy đây là hướng phát triển phù hợp nên đăng ký tham gia. Không chỉ riêng gia đình ông, nhiều hộ dân trong thôn cũng kỳ vọng cây thanh long sẽ mở ra cơ hội nâng cao thu nhập trong thời gian tới.
Điều đáng chú ý là trong toàn bộ quá trình ấy, vai trò của công tác dân vận không chỉ dừng ở việc vận động người dân làm theo chủ trương mà còn góp phần tạo dựng niềm tin. Khi người dân nhìn thấy hiệu quả thực tế, chủ trương của Đảng không còn là những dòng chữ trong nghị quyết mà trở thành cơ hội phát triển ngay trên mảnh đất họ đang sinh sống.

Các đồng chí lãnh đạo tỉnh, xã tham quan mô hình nuôi dúi thương phẩm của anh Thượng Duy Tấn, một trong những mô hình kinh tế mới mang lại hiệu quả tại xã Thuận Hòa. Ảnh: Thu Biên.
Đánh thức tiềm năng từ chính nội lực của người dân
Chúng tôi rất tâm đắc với chia sẻ của đại diện UBND xã Thuận Hòa khi cho rằng, nếu chỉ nhìn vào những vườn thanh long đang phủ xanh các triền đồi, có thể thấy sự thay đổi về cơ cấu cây trồng. Nhưng sâu xa hơn, điều Thuận Hòa đang có được là sự thay đổi trong tư duy phát triển kinh tế của người dân.
Không tâm đắc sao được khi bao đời nay, từ chỗ quen với sản xuất tự cung, tự cấp, hiện nay, nhiều hộ gia đình đã chủ động tìm hiểu thị trường, học hỏi kỹ thuật và mạnh dạn đầu tư vào những mô hình kinh tế mới.
Cùng với chuyển đổi cây trồng, phong trào phát triển chăn nuôi hàng hóa cũng đang tạo ra những tín hiệu tích cực.
Tại thôn Mịch B, mô hình nuôi dúi thương phẩm của anh Thượng Duy Tấn là một ví dụ điển hình.
Đầu năm 2025, anh đầu tư 25 cặp dúi giống để nuôi thử nghiệm. Nhờ phù hợp với điều kiện địa phương, ít dịch bệnh, thức ăn dễ kiếm và khả năng sinh sản nhanh, sau hơn một năm đàn dúi đã phát triển lên gần 100 con, mang lại lợi nhuận trên 150 triệu đồng mỗi năm.

Những mầm thanh long đang vươn lên xanh tốt trên vùng đất cằn sỏi đá, mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho người dân xã Thuận Hòa. Ảnh: Thu Biên.
Theo anh Tấn, nhu cầu thị trường hiện nay khá lớn. Nếu được đầu tư bài bản, đây là hướng phát triển kinh tế hiệu quả đối với nhiều hộ dân vùng cao.
Cũng tại thôn Mịch B, mô hình nuôi bò thương phẩm quy mô trên 100 con của anh Thượng Thái Cát đang mở ra hướng phát triển mới. Không chỉ cung cấp bò giống và bò thịt cho thị trường, gia đình anh còn kết hợp phát triển dịch vụ du lịch trải nghiệm và ẩm thực, từng bước nâng cao giá trị sản phẩm chăn nuôi.
Đằng sau những mô hình ấy là sự đồng hành của cấp ủy, chính quyền địa phương thông qua việc hỗ trợ giống, vật tư, tổ chức tập huấn kỹ thuật và kết nối các nguồn lực phát triển sản xuất.
Và quan trọng hơn, đó là sự thay đổi trong nhận thức của người dân.
Từ tâm lý trông chờ, phụ thuộc vào hỗ trợ, nhiều hộ đã chủ động tìm kiếm cơ hội phát triển kinh tế. Từ chỗ chỉ khai thác những gì sẵn có, họ bắt đầu nghĩ tới việc tạo ra giá trị mới từ chính điều kiện tự nhiên của địa phương.

Nhờ thay đổi tư duy sản xuất, nhiều hộ dân ở Thuận Hòa mạnh dạn phát triển chăn nuôi hàng hóa, từng bước nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống. Ảnh: Thu Biên
Có thể nói tại Thuận Hòa, thành công lớn nhất của Nghị quyết số 19 không chỉ nằm ở số hecta thanh long được trồng hay số mô hình kinh tế được hình thành, mà ở việc khơi dậy nội lực trong mỗi người dân.
Bởi thực tiễn ở nhiều địa phương cho thấy, một nghị quyết dù đúng đến đâu cũng khó phát huy hiệu quả nếu thiếu sự đồng thuận của người dân.
Chính vì vậy, cùng với việc triển khai các giải pháp phát triển kinh tế, nội dung Nghị quyết số 19 được đưa vào sinh hoạt chi bộ định kỳ. Đảng viên được phân công phụ trách địa bàn, trực tiếp tuyên truyền, vận động và đồng hành cùng người dân trong quá trình chuyển đổi sản xuất.
Nhiều đảng viên đi đầu xây dựng mô hình kinh tế mới để người dân học tập, làm theo.
Sự gương mẫu ấy tạo nên sức thuyết phục tự nhiên hơn bất kỳ khẩu hiệu nào.
Nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển kinh tế gắn với công tác dân vận, đời sống người dân Thuận Hòa đang từng bước được cải thiện. Đến nay, toàn xã giảm được 64 hộ nghèo và cận nghèo, tương đương 4,87%.

Các mô hình chăn nuôi gia súc theo hướng hàng hóa đang trở thành động lực quan trọng trong công tác giảm nghèo và phát triển kinh tế ở Thuận Hòa. Ảnh: Thu Biên
Theo ông Triệu Quốc Đạt, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Thuận Hòa, việc triển khai Nghị quyết số 19 nhận được sự đồng thuận rất lớn từ Nhân dân. Thông qua công tác tuyên truyền, vận động và lấy hiệu quả thực tế làm minh chứng, người dân đã hiểu, tin tưởng và tích cực hưởng ứng. Trong thời gian tới, địa phương tiếp tục mở rộng diện tích thanh long, cây dâu tằm và phát triển các mô hình chăn nuôi phù hợp nhằm xây dựng vùng sản xuất hàng hóa tập trung, nâng cao thu nhập cho người dân.
Nhìn từ câu chuyện của Thuận Hòa có thể thấy, giá trị lớn nhất của công tác dân vận không nằm ở số cuộc họp hay số buổi tuyên truyền đã tổ chức mà ở khả năng biến những chủ trương đúng đắn thành hành động tự giác của người dân.
Khi cán bộ thực sự gần dân, hiểu dân và đồng hành cùng dân; khi nghị quyết được cụ thể hóa bằng những mô hình hiệu quả, những kết quả có thể nhìn thấy và kiểm chứng được thì niềm tin sẽ được hình thành từ thực tiễn.
Những hàng thanh long đang vươn lên trên vùng đất từng khô cằn, những mô hình chăn nuôi ngày càng phát triển và những hộ dân từng bước thoát nghèo hôm nay là minh chứng cho điều đó.
Tại xã vùng cao nằm khuất lấp sau rất nhiều mây trắng này, nghị quyết của Đảng không dừng lại trên những trang giấy. Nó đang hiện hữu trong những mùa quả ngọt, trong những mô hình kinh tế mới và trong sự đổi thay của từng hộ gia đình. Đó cũng là cách một nghị quyết bén rễ vào cuộc sống. Bắt đầu từ niềm tin, được nuôi dưỡng bằng sự đồng hành và kết tinh thành những sinh kế bền vững trên chính vùng đất đá tưởng như khắc nghiệt.
Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.