Tại Sơn La, các hợp tác xã sản xuất rau, củ, quả đang ứng dụng hệ thống tưới tự động, nhà màng, nhà lưới để giảm công chăm sóc, tiết kiệm nước và chủ động điều kiện sản xuất. Trong khi đó, ở những vùng cà phê trên đất dốc, việc chuyển giao kỹ thuật tập trung vào sử dụng phân bón hợp lý, giữ độ ẩm và hạn chế xói mòn đất.
Tùy điều kiện từng địa bàn và loại cây trồng, tỉnh Sơn La chú trọng lựa chọn giải pháp kỹ thuật phù hợp với khả năng đầu tư của người dân, hợp tác xã. Hiệu quả ứng dụng được xem xét qua mức tiết kiệm vật tư, công lao động, năng suất, chất lượng sản phẩm và tác động đến môi trường. Đây cũng là cơ sở để lựa chọn các mô hình tiếp tục hỗ trợ, nhân rộng.
Chọn công nghệ phù hợp từng vùng sản xuất
Tại phường Vân Sơn, tỉnh Sơn La, HTX Nông nghiệp Dũng Tiến đã đầu tư hệ thống tưới phun sương và tưới nhỏ giọt theo công nghệ Israel để chăm sóc rau, củ, quả. Trên diện tích 20 ha sản xuất, HTX có 10 ha đạt tiêu chuẩn VietGAP và 5 ha trồng trong nhà kính, nhà lưới.

Hệ thống tưới phun sương và tưới nhỏ giọt theo công nghệ Israel để chăm sóc rau, củ, quả trong nhà kính, nhà lưới.
Việc tự động hóa khâu tưới nước và chăm sóc cây trồng giúp HTX tiết kiệm tới 70% lượng nước và 50% chi phí nhân công theo thông tin của đơn vị. Hệ thống tưới còn giúp cung cấp nước phù hợp với nhu cầu sinh trưởng của từng loại cây, hạn chế tình trạng sử dụng nước không hiệu quả.
Ông Kim Văn Dũng, Giám đốc HTX Nông nghiệp Dũng Tiến, cho biết HTX chú trọng ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, kết hợp quản lý chất lượng và bảo quản nông sản sau thu hoạch. Rau, củ được bảo quản trong kho lạnh trước khi vận chuyển; thông tin về nơi trồng, thời gian thu hoạch được cập nhật phục vụ truy xuất nguồn gốc.
Tại phường Mộc Châu, HTX Mộc Vân Trang cũng lựa chọn công nghệ phù hợp với sản xuất rau, củ, quả. Tham gia Dự án "Nông nghiệp thông minh vì thế hệ tương lai" do Chính phủ Hàn Quốc tài trợ, HTX được hỗ trợ 2.000 m² nhà lưới và tiếp nhận hướng dẫn kỹ thuật từ các chuyên gia của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO).
Các nội dung chuyển giao tập trung vào vận hành nhà màng, sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt, lưới cắt nắng, thuốc bảo vệ thực vật sinh học và áp dụng quy trình canh tác theo hướng hữu cơ.
Ông Hà Văn Tiến, Giám đốc HTX Mộc Vân Trang, cho biết từ những kỹ thuật được hướng dẫn, HTX đã mở rộng diện tích sản xuất trong nhà màng, nhà lưới. Hiện đơn vị có gần 20 ha trồng rau, trong đó 4 ha được lắp đặt hệ thống tưới ẩm tự động và điều chỉnh nhiệt độ phù hợp với từng loại cây trồng.
Cà chua, ớt chuông, cần tây, dâu tây, dưa chuột là những sản phẩm đang được HTX đưa vào sản xuất. Đơn vị tiếp tục định hướng mở rộng diện tích canh tác theo hướng hữu cơ, nâng chất lượng sản phẩm và phát triển liên kết tiêu thụ.

Ông Trần Dũng Tiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La.
Theo số liệu ngành nông nghiệp, tỉnh Sơn La đang duy trì 8 vùng trồng trọt ứng dụng công nghệ cao với diện tích hơn 3.235 ha; trên 3.209 ha cây trồng đã áp dụng hệ thống tưới tiên tiến, tiết kiệm nước.
Ông Trần Dũng Tiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La, cho biết ngành nông nghiệp lựa chọn công nghệ trên cơ sở hiệu quả kinh tế, khả năng đầu tư, vận hành và mức độ phù hợp với điều kiện từng vùng sản xuất. Trong trồng trọt, các giải pháp được chú trọng gồm tưới tiết kiệm, cảm biến độ ẩm, bón phân qua hệ thống tưới, cơ giới hóa và sản xuất trong nhà kính, nhà lưới.
Theo ông Trần Dũng Tiến, kết quả tại một số mô hình khuyến nông cho thấy công nghệ tưới tiên tiến có thể giảm 30-50% lượng nước, 20-30% lượng phân bón và tăng 15-25% năng suất. Đây là những chỉ số quan trọng để ngành nông nghiệp đánh giá hiệu quả, lựa chọn giải pháp phù hợp trước khi triển khai trên diện rộng.
Ông Nguyễn Đình Việt, Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La, nhấn mạnh việc ứng dụng khoa học, công nghệ phải giải quyết những khó khăn thực tế của sản xuất, không triển khai theo phong trào. Những mô hình có khả năng tiết giảm chi phí, nâng năng suất, chất lượng sản phẩm và nhân rộng sẽ được ưu tiên trong quá trình phân bổ nguồn lực.
Khuyến nông đến từng hộ, sử dụng hiệu quả tài nguyên
Không chỉ đầu tư thiết bị, tỉnh Sơn La còn chú trọng chuyển giao quy trình canh tác xanh, hướng dẫn nông dân sử dụng hợp lý phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và tận dụng phụ phẩm nông nghiệp.
Tháng 6/2026, UBND xã Long Hẹ, tỉnh Sơn La, vận động 23 hộ dân tại bản É Tòng tham gia mô hình trồng cà phê bền vững trên diện tích 8 ha.
Cán bộ khuyến nông thường xuyên đến vườn hướng dẫn người dân chăm sóc cà phê trong giai đoạn kiến thiết, sử dụng phụ phẩm nông nghiệp làm phân xanh, ủ phân chuồng để bón cho cây. Những kỹ thuật này được triển khai nhằm giảm sử dụng vật tư đầu vào, cải thiện điều kiện canh tác và hạn chế tác động đến môi trường.

Hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc cà phê cho nông dân phường Chiềng An, tỉnh Sơn La.
Ông Phạm Văn Cầu, Phó Chủ tịch UBND xã Long Hẹ, tỉnh Sơn La, cho biết khả năng tiếp cận kỹ thuật sản xuất mới của một bộ phận người dân vùng cao còn hạn chế. Vì vậy, UBND xã lựa chọn xây dựng mô hình điểm, hướng dẫn trực tiếp tại vườn để nông dân nắm được quy trình chăm sóc và từng bước thay đổi tập quán canh tác.
Cùng với mô hình 8 ha cà phê bền vững, UBND xã Long Hẹ đang vận động người dân duy trì thảm cỏ trên khoảng 50 ha đất trồng cà phê nhằm giữ độ ẩm, hạn chế xói mòn. Người dân cũng được hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc, phục hồi cây trồng sau thu hoạch.
Tại những vùng sản xuất có địa hình dốc, việc giữ thảm cỏ và sử dụng phân hữu cơ phù hợp giúp bảo vệ đất, hạn chế rửa trôi dinh dưỡng. Đây là những kỹ thuật không đòi hỏi đầu tư thiết bị lớn nhưng cần được hướng dẫn đúng quy trình và duy trì thường xuyên.
Để nhân rộng các mô hình, ngành Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La xác định tiếp tục đổi mới hoạt động khuyến nông theo hướng kết hợp tập huấn trực tiếp với ứng dụng công nghệ số.
Ông Trần Dũng Tiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La, cho rằng công tác chuyển giao sẽ phải chú trọng hơn đến phương pháp hướng dẫn thực hành, phù hợp với điều kiện từng vùng sản xuất và trình độ của người dân. Cùng với các lớp tập huấn tại cơ sở, ngành nông nghiệp sẽ tăng cường tài liệu điện tử, video hướng dẫn kỹ thuật và phát huy vai trò của các tổ khuyến nông cộng đồng.

Việc đánh giá các mô hình ứng dụng công nghệ cũng được yêu cầu thực hiện cụ thể hơn. Ngoài năng suất và chất lượng sản phẩm, ngành nông nghiệp sẽ tính toán mức sử dụng nước, phân bón, công lao động, chi phí đầu tư, vận hành và thời gian hoàn vốn. Qua đó, xác định những giải pháp phù hợp với khả năng đầu tư của người dân, hợp tác xã trước khi nhân rộng.
Theo ông Nguyễn Đình Việt, Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La, thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW và Nghị quyết 71/NQ-CP, nguồn lực cho khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong nông nghiệp phải tập trung vào những nhiệm vụ có hiệu quả thực tế, có khả năng nhân rộng. Kết quả ứng dụng cần được đánh giá bằng năng suất, chất lượng nông sản, mức giảm chi phí sản xuất và thu nhập của người dân.
Tỉnh Sơn La sẽ tiếp tục ưu tiên nghiên cứu, chuyển giao công nghệ phù hợp với các ngành hàng chủ lực, hỗ trợ nông dân, hợp tác xã tiếp cận tiến bộ kỹ thuật. Việc nhân rộng các mô hình phải căn cứ vào hiệu quả sản xuất, khả năng vận hành và điều kiện thực tế của từng địa phương, đồng thời bảo đảm yêu cầu sử dụng tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường trong phát triển nông nghiệp.
Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.