Có những âm thanh đã cùng một làng quê qua bao năm tháng. Tiếng lá, tiếng nan tre, tiếng kim khâu lặng lẽ làm nên những chiếc nón mang theo ký ức của người Tri Lễ. Nghề làm nón nơi đây đã có từ hàng trăm năm, không ai còn nhớ chính xác nghề bắt đầu từ khi nào, chỉ biết những vành nón vẫn được trao truyền qua bao thế hệ.


Cụ Vũ Bá Thêu
Và ở tuổi 96, cụ Vũ Bá Thêu (thôn Tri Lễ, xã Dân Hòa, thành phố Hà Nội) vẫn nhớ về những chiếc nón của một thời. Cụ Vũ Bá Thêu kể chiếc nón Tri Lễ hiện nay đã được cải tiến để phù hợp với bà con làm nông nghiệp. Tuy nhiên, những nét đẹp truyền thống vẫn được người nghệ nhân giữ nguyên.
Giống với cụ Vũ Bá Thêu, ông Vũ Bá Trình cũng đã có nhiều năm gắn bó với nghề làm nón. Ông luôn mong mỏi khôi phục lại các chi tiết xưa của chiếc nón lá già 21 vòng. Nhưng việc phục dựng loại nón lá này khó khăn, bởi chiếc nón 21 vòng có kích thước lớn và đòi hỏi nhiều công đoạn chế tác phức tạp, kỳ công hơn hẳn so với nón cải tiến hiện nay.
Chiếc nón Tri Lễ đã có nhiều sự đổi mới. Từ 21 vòng ban đầu, nón được thu gọn xuống còn 16 vòng, thậm chí là 8 vòng để chiếc nón ngắn lại và tiện dụng hơn. Dù vậy, "hồn quê" vẫn luôn được gửi gắm trọn vẹn trong từng sản phẩm, với những vật liệu thân thiện môi trường như tàu lá cọ, tre nứa… Bà con đã khéo léo đưa vào nhiều chi tiết sáng tạo như lót lụa bên trong, hay dùng chỉ đa sắc màu để làm quai nón.

Ông Vũ Bá Trình cho biết dù du nhập nhiều họa tiết khác nhau nhưng những người thợ tâm huyết nơi đây vẫn kiên trì giữ lại cái hồn cốt của chiếc nón lá già 21 vòng truyền thống. Họ không ngừng bảo tồn di sản tổ tiên, đồng thời không ngừng sáng tạo để làm phong phú thêm các sản phẩm quê hương.
“Tôi luôn dặn dò con cháu phải tiếp tục gắn bó với các loại nón của quê mình. Chỉ mong rằng các thế hệ mai sau sẽ luôn nỗ lực để giữ gìn trọn vẹn nghề truyền thống quý báu này”, cụ Vũ Bá Thêu bộc bạch thêm.
Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.