Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II với chủ đề “Dòng chảy di sản” đã mang lại những trải nghiệm văn hóa đa dạng tiếp tục cho thấy sức hút của di sản Hà Nội đối với công chúng trong nước và quốc tế. Riêng tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám đã đón hơn 22.000 lượt khách chỉ trong năm ngày đầu diễn ra sự kiện. Các chương trình thời trang, nghệ thuật, triển lãm và trải nghiệm văn hóa thu hút đông đảo công chúng tham dự.
Ban ngày ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám, người xem có thể bước qua những không gian kiến trúc cổ, đọc bia đá, tìm hiểu câu chuyện về truyền thống khoa cử; thưởng lãm các chương trình nghệ thuật “Sắc màu Hà Nội”, show “Thanh âm Gốm”… Nhưng vào một buổi tối, cùng một di sản ấy lại được kể bằng ánh sáng, âm thanh và công nghệ 3D mapping.
Trong không gian tour diễn đêm, sân Thái học trở thành một màn hình khổng lồ của chương trình 3D mapping “Tinh hoa đạo học”. Lịch sử của ngôi trường quốc học đầu tiên được kể bằng hình ảnh, âm thanh và ánh sáng thay vì một bài thuyết minh dài.
Công nghệ thực tế ảo cũng được đưa vào trải nghiệm thư pháp. Người tham quan không chỉ nhìn những nét chữ cổ mà có thể thực hành với bút lông, nghiên mực, giấy dó trong không gian mô phỏng lớp học nho sinh xưa.
Một du khách nước ngoài chia sẻ, ông tìm đến Việt Nam bởi sự quan tâm tới giáo dục và lịch sử, đồng thời ấn tượng với màn trình diễn mapping và những tài liệu về chữ cổ.



Công nghệ kết nối mạch di sản truyền thống với nhịp sống đương đại
“Ở đây, công nghệ không đứng tách khỏi di sản. Nó trở thành một phương thức kể chuyện khác. Điều quan trọng nhất trong quá trình bảo tồn và số hóa là giữ được giá trị nguyên gốc, từ kiến trúc, cảnh quan, hiện vật đến tư liệu lịch sử”, bà Nguyễn Hương Liên - Phó Giám đốc Trung tâm Hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám nhấn mạnh.
Nếu ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám, công nghệ được sử dụng để mở rộng cách kể câu chuyện về một di sản thì tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, công nghệ đang được đưa sâu hơn vào chính trải nghiệm của khách tham quan.
Quá trình này bắt đầu từ những thay đổi khá cụ thể. Năm 2021, Bảo tàng mở mới hoạt động trải nghiệm trên màn hình tương tác dành cho trẻ em. Từ năm 2023, trò chơi “Vui đón quà” và hệ thống quét mã QR “Đi tìm kho báu” tiếp tục được đưa vào hoạt động.
Đến năm 2025, Bảo tàng ra mắt sản phẩm Ông Tiến sĩ giấy phiên bản AI - công nghệ hóa một hình tượng dân gian quen thuộc. “Ông Tiến sĩ giấy AI” là mô hình robot được tích hợp động cơ cơ khí và dữ liệu chuyên ngành của Bảo tàng có thể di chuyển và đối thoại trực tiếp với khách. Một hình tượng văn hóa dân gian vì thế không còn chỉ nằm trong tủ trưng bày mà trở thành điểm bắt đầu cho một cuộc trò chuyện.
Cách làm này đặc biệt có ý nghĩa với học sinh, sinh viên là nhóm công chúng vốn đã quen với việc tiếp nhận thông tin qua các phương tiện tương tác.
Sinh viên Đỗ Anh Thư và nhóm sinh viên Học viện Ngoại giao Hà Nội cho biết vô cùng hào hứng với những trò chơi tương tác, việc trò chuyện với hiện vật bằng AI hay trải nghiệm in 3D giúp bảo tàng trở nên gần gũi hơn với giới trẻ. Với nhóm công chúng này, công nghệ không còn là yếu tố phụ trợ mà đã trở thành một phần tự nhiên trong cách họ tìm hiểu thế giới.



Bảo tàng Dân tộc học thực hiện số hóa kho hiện vật, xây dựng nền tảng dữ liệu số mở, cá nhân hóa trải nghiệm.
Đối với những giá trị văn hóa phi vật thể vốn rất khó truyền tải chỉ bằng hiện vật, công nghệ cũng giúp bảo tàng giải quyết hiệu quả bài toán này. “Hộp âm nhạc” công nghệ cho phép khách nghe âm thanh của nhiều loại nhạc cụ truyền thống. Các ứng dụng nghe nhìn tại phòng Đa phương tiện tạo thêm một lớp trải nghiệm bằng âm thanh, hình ảnh. Hiện vật vì thế không chỉ được nhìn. Nó có thể được nghe, tương tác và khám phá theo nhiều cách khác nhau.
Từ những trải nghiệm nhỏ, Bảo tàng đang hướng tới một hệ thống lớn hơn: số hóa kho hiện vật, xây dựng nền tảng dữ liệu số mở, cá nhân hóa trải nghiệm, triển khai Audioguide và thực tế ảo tại khuôn viên nhà Chăm, đồng thời đào tạo nguồn nhân lực số.
PGS.TS Nguyễn Văn Huy, nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam nhận định: không gian mở và công nghệ đang làm thay đổi cách công chúng tiếp cận bảo tàng. Những trải nghiệm trực quan, có tính tương tác giúp người xem chủ động khám phá. Điểm đáng chú ý là công nghệ ở đây không nhằm làm cho bảo tàng “hiện đại” về hình thức. Mục tiêu cuối cùng vẫn là đưa công chúng đến gần hơn với những gì đang được lưu giữ bên trong.
Nếu Văn Miếu và Bảo tàng Dân tộc học cho thấy công nghệ có thể thay đổi trải nghiệm tại một không gian văn hóa, dự án của VR360 đặt ra một câu chuyện khác: điều gì xảy ra khi chính không gian di sản được đưa lên môi trường số?
Từ năm 2024, dự án “Số hóa 310 địa chỉ đỏ tại Thủ đô Hà Nội” được triển khai. Hơn 300 địa chỉ gắn với lịch sử, văn hóa Hà Nội được ghi lại bằng hình ảnh 360 độ, thuyết minh song ngữ và tích hợp chatbot AI.
Chỉ với một chiếc điện thoại, người dùng có thể quan sát không gian, đọc thông tin và khám phá một địa chỉ lịch sử mà không nhất thiết phải có mặt trực tiếp tại đó.
Thoạt nhìn, đây có vẻ là câu chuyện của công nghệ. Nhưng khi đi sâu vào quá trình thực hiện, phần khó nhất lại nằm ở những việc rất “đời”. Bởi nếu không bắt đầu từ di sản thật, một phiên bản số dù đẹp đến đâu cũng chỉ là một sản phẩm công nghệ.
Từ thực tế triển khai đưa 300 địa chỉ đỏ Hà Nội lên không gian số của VR360 cho thấy, bài toán số hóa di sản không chỉ nằm ở công nghệ mà ngoại cảnh hiện trường cũng là yếu tố cần phải tính toán trong quá trình tác nghiệp. Để tạo ra sản phẩm trực quan, đội ngũ thực hiện phải trực tiếp đến từng địa điểm, lựa chọn thời điểm, góc máy phù hợp và ghi lại hiện trạng chính xác. Với những địa chỉ nằm trong khu dân cư, công việc đôi khi phụ thuộc vào sinh hoạt của người dân. Kỹ thuật viên Vũ Hoàng Tiểu Long cho biết, khi ghi hình tại một số địa chỉ văn hóa, di tích ở các phường Cửa Nam, Ba Đình, ê-kíp thường gặp tình trạng phương tiện dừng, đỗ trước khu vực cần ghi hình. Nhóm phải chờ đợi, liên hệ chủ phương tiện để nhờ hỗ trợ di chuyển.
Một số “địa chỉ đỏ” hiện được sử dụng làm nơi ở hoặc kinh doanh. Khi đó, việc ghi hình cần sự phối hợp và đồng thuận của người dân, trong bối cảnh sinh hoạt, sản xuất vẫn diễn ra tại chính không gian mang giá trị lịch sử, văn hóa. Những tình huống này đặt ra yêu cầu quan trọng: dữ liệu số phải phản ánh trung thực hiện trạng di sản.
Theo VR360, với những địa điểm đã xuống cấp hoặc không còn nguyên trạng, đơn vị không thể tùy ý làm khác đi thực tế. Đội ngũ chuyên môn phải tìm kiếm, đối chiếu tư liệu liên quan để xây dựng nội dung thuyết minh. Nếu hồ sơ lịch sử còn đủ căn cứ, công nghệ có thể hỗ trợ tái hiện một số chi tiết dựa trên dữ liệu đã được kiểm chứng.
“Chúng tôi xác định số hóa phải bắt đầu từ sự trung thực với hiện trạng. Công nghệ có thể hỗ trợ phục dựng, tái hiện những phần đã bị thiếu hụt, nhưng phải dựa trên hồ sơ và được kiểm chứng kỹ”, ông Nguyễn Văn Trí - Giám đốc kỹ thuật VR360 nói.



Ảnh gốc kiến trúc Nhà máy điện Yên Phụ, Nhà máy Bia Hà Nội, Nhà máy Diêm Thống Nhất trong dự án số hóa 310 địa chỉ đỏ Hà Nội do VR360 thực hiện.
Khi dữ liệu được xây dựng từ hiện trạng, tư liệu lịch sử và sự kiểm chứng, công nghệ có thể giúp một giá trị văn hóa bước ra khỏi giới hạn của không gian vật lý mà không đánh mất căn cước của chính nó.
Đây là ranh giới quan trọng nhất của phát triển văn hóa trong thời đại số: không đưa di sản rời khỏi không gian thực, mà tạo thêm một không gian để di sản được nhìn thấy, được hiểu và được tiếp tục sống. Bảo tồn di sản không chỉ là giữ lại những gì đã có, mà còn là tạo điều kiện để những giá trị ấy tiếp tục sống trong đời sống đương đại.
Tại Hoàng thành Thăng Long, lịch sử không chỉ hiện diện qua những công trình còn lại, mà còn ẩn sâu trong từng lớp đất nền móng và hiện vật khảo cổ. Những dấu tích không còn nguyên vẹn ấy lưu giữ manh mối về diện mạo kinh đô xưa nhưng khó giúp du khách hình dung đầy đủ nếu thiếu sự dẫn giải.
Đầu năm 2026, Ban quản lý khu Di tích đã chính thức ra mắt Không gian Trải nghiệm Số Hoàng thành Thăng Long, đồng thời công chiếu mở màn vở diễn “Kinh đô Thăng Long” bằng công nghệ 3D mapping.
Không gian trải nghiệm đa giác quan Immersive gồm 6 phân khu ứng dụng công nghệ hiện đại. Từ trình chiếu 3D tái hiện không gian xưa, giới thiệu bảo vật triều Lý trong không gian ảo đến lễ tân AI, màn hình tương tác, trải nghiệm cổ phục bằng AI và du hành VR360…
(Ảnh: Hoàng Thành Thăng Long)
Đây thực sự là dự án lớn về đổi mới phương thức tiếp cận di sản gắn với chuyển đổi số để hình thành một không gian sáng tạo, kết nối quá khứ với hiện tại. Công chúng đặc biệt là thế hệ trẻ có thể“chạm vào lịch sử”, đối thoại với tri thức quá khứ bằng ngôn ngữ số hiện đại, trực quan giàu tương tác.
Nhóm sinh viên ngành Kinh doanh Số - Đại học Ngoại thương nhận xét: “Phiên bản số di sản giúp chúng tôi hiểu sâu hơn về cội nguồn nơi mình sống. Là người trẻ, tôi muốn lan tỏa bản đồ đến bạn bè để cùng tìm hiểu lịch sử, văn hóa Hà Nội và đất nước”, sinh viên Phạm Đỗ Mai An chia sẻ.
Trên không gian số ở một chiều không gian di sản khác, tranh dân gian Đông Hồ và gốm Phù Lãng đang tìm thấy những cơ hội mới để lan tỏa giá trị văn hóa và tiếp cận thị trường mới.


Tranh Đông Hồ được số hóa dưới dạng 3D cho phép người xem phóng to, xoay nhiều chiều để quan sát chi tiết đường nét.
Tại các triển lãm thực tế ảo chuyên sâu về các dòng tranh dân gian này, công chúng có thể đeo kính VR (thiết bị công nghệ thực tế ảo trong gian ba chiều) để trải nghiệm những công đoạn chế tác như quét màu điệp lên giấy dó hay xoay gốm trên bàn xoay ảo. Các tác phẩm được số hóa dưới dạng 3D, cho phép người xem phóng to, xoay nhiều chiều để quan sát chi tiết đường nét khắc gỗ và sắc màu tự nhiên, tạo cảm giác như đang cầm trên tay tác phẩm thật.
Hình thức này giúp công chúng tìm hiểu, thưởng thức di sản mà không bị giới hạn bởi khoảng cách địa lý hay thời gian, đồng thời mở rộng khả năng quảng bá các sản phẩm thủ công truyền thống trên môi trường số.

Các đại biểu thực hiện nghi thức ra mắt nền tảng số Hành trình di sản du lịch Hà Nội
Sáng 18/10, lễ ra mắt nền tảng công nghệ số “Hành trình du lịch di sản Hà Nội” diễn ra tại đình Kim Ngân (phố Hàng Bạc, phường Hoàn Kiếm). Đây là sản phẩm của dự án phát huy giá trị di sản được Quỹ Équipe France của Bộ Châu Âu và Ngoại giao Pháp tài trợ thông qua Đại sứ quán Pháp và Viện Pháp tại Việt Nam.
Bà Éléonore Caroit, Bộ trưởng uỷ quyền đặc trách Pháp ngữ, Đối tác quốc tế và Pháp kiều, Bộ châu Âu và Ngoại giao Pháp chia sẻ tại sự kiện:
Dự án bắt nguồn từ nhận thức của chính quyền địa phương về sự cần thiết phải hành động, điều mà tôi trân trọng ghi nhận. Nhờ được số hóa, nguồn tư liệu này giờ đây đã trở nên dễ dàng tiếp cận với tất cả mọi người, từ người dân đến du khách, chỉ bằng một thao tác đơn giản qua các mã QR. Tri thức không còn nằm lại trong kho lưu trữ mà đồng hành cùng mỗi người trên những bước dạo quanh Thủ đô tươi đẹp. Nền tảng cung cấp thông tin bằng ba ngôn ngữ. Đây là một công cụ mở rộng giao lưu, đặc biệt với tiếng Pháp, điều mà tôi hết sức quan tâm.
Thực hiện: Đỗ Hương








Bình luận (0)