Diễn đàn Tài chính 2026: "Khơi thông dòng vốn, Kết nối đa kênh" do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức ngày 20/5, tại TP Hồ Chí Minh
Sức bật từ cải cách
Mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân hai con số giai đoạn 2026-2030 đang đặt Việt Nam trước yêu cầu chưa từng có về huy động nguồn lực. Trong khi nền kinh tế bước vào chu kỳ tăng trưởng mới với kỳ vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, những biến động địa chính trị, áp lực lạm phát và rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục phủ bóng lên triển vọng dòng vốn.
Bài toán vốn không còn là câu chuyện riêng của doanh nghiệp mà đã trở thành vấn đề chiến lược của nền kinh tế. Phát biểu tại Diễn đàn Tài chính 2026: "Khơi thông dòng vốn, Kết nối đa kênh" do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức ngày 20/5, tại TP Hồ Chí Minh; Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Hoàng Quang Phòng nhận định Việt Nam đang bước vào giai đoạn phải bứt tốc để vượt qua bẫy thu nhập trung bình, chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.

Các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ước tính Việt Nam cần khoảng 15 đến 17 tỷ USD mỗi năm cho các dự án hạ tầng bền vững và thích ứng biến đổi khí hậu.
Theo ông Phòng, khu vực kinh tế tư nhân hiện không chỉ đóng góp lớn cho GDP và việc làm mà còn trở thành lực lượng dẫn dắt đổi mới sáng tạo và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, để khu vực này phát triển đúng tầm, môi trường đầu tư và hệ thống dẫn vốn phải được cải cách mạnh hơn.
Áp lực huy động vốn cho nền kinh tế là rất lớn. Các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ước tính Việt Nam cần khoảng 15 đến 17 tỷ USD mỗi năm cho các dự án hạ tầng bền vững và thích ứng biến đổi khí hậu. Trong khi đó, ngân sách nhà nước chỉ có thể đáp ứng khoảng 30 đến 35% nhu cầu. Không chỉ hạ tầng, khoảng trống tín dụng của doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn ở mức cao. Nhiều doanh nghiệp có nhu cầu nhưng chưa thể tiếp cận vốn do thiếu tài sản bảo đảm, hồ sơ tài chính chưa minh bạch hoặc chi phí vay quá lớn.
Ông Nguyễn Phi Lân, Vụ trưởng Vụ Dự báo Thống kê, Ổn định Tiền tệ Tài chính thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho rằng trong bối cảnh biến động toàn cầu hiện nay, việc khơi thông dòng vốn phải đi cùng yêu cầu ổn định kinh tế vĩ mô và an toàn hệ thống ngân hàng. Theo ông Lân, doanh nghiệp muốn tiếp cận vốn bền vững phải nâng cao năng lực quản trị tài chính, minh bạch thông tin và sử dụng vốn đúng mục đích. Điều quan trọng hơn là cần đa dạng hóa nguồn vốn thay vì phụ thuộc tuyệt đối vào tín dụng ngân hàng.
Quan điểm này cũng được nhiều chuyên gia chia sẻ khi tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam đang ở mức cao. PGS TS Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh cảnh báo việc nền kinh tế phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro dài hạn. Ông Huân cho rằng hai trụ cột giúp giảm tải cho hệ thống ngân hàng trong tương lai sẽ là thị trường vốn và Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam. Đây được xem là cánh cửa để thu hút dòng vốn quốc tế và hình thành hệ sinh thái tài chính đa tầng thay cho mô hình dẫn vốn truyền thống.
Mở rộng đa kênh
Khơi thông vốn hiện nay không chỉ nằm ở quy mô mà còn là chất lượng dòng vốn và cấu trúc tài chính của doanh nghiệp. Ông Trần Hoài Phương, Giám đốc Ngân hàng Doanh nghiệp thuộc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển TP Hồ Chí Minh (HDBank) cho rằng niềm tin giữa ngân hàng và doanh nghiệp phải được xây dựng trên nền tảng dữ liệu trung thực. Theo ông, nhiều doanh nghiệp hiện tồn tại khoảng cách lớn giữa báo cáo tài chính và thực lực kinh doanh.
Điều khiến các ngân hàng lo ngại không phải chỉ là tài sản bảo đảm mà là cấu trúc tài chính thiếu an toàn, sử dụng đòn bẩy quá cao và mất cân đối dòng tiền. Tình trạng dùng vốn ngắn hạn để đầu tư tài sản dài hạn vẫn khá phổ biến, làm gia tăng rủi ro cho cả doanh nghiệp lẫn hệ thống tín dụng.

Các chuyên gia cho rằng, hai trụ cột giúp giảm tải cho hệ thống ngân hàng trong tương lai sẽ là thị trường vốn và Trung tâm Tài chính Quốc tế.
Một vấn đề khác được ông Phương đề cập là điểm tín nhiệm quốc gia của Việt Nam vẫn dưới mức đầu tư theo đánh giá của các tổ chức xếp hạng quốc tế như Standard & Poor's và Moody's. Điều này khiến doanh nghiệp Việt Nam phải vay vốn với lãi suất cao hơn và kỳ hạn ngắn hơn các nước trong khu vực.
Ở góc độ chính sách địa phương, TP Hồ Chí Minh đang thử nghiệm nhiều cơ chế mới nhằm mở rộng nguồn lực cho tăng trưởng. Bà Nguyễn Thị Minh Vân, Phó Giám đốc Sở Tài chính TP Hồ Chí Minh cho biết Thành phố đặt mục tiêu huy động vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 1,18 triệu tỷ đồng trong năm 2026, tương đương 30% GRDP. Để đạt mục tiêu này, Thành phố triển khai chính sách hỗ trợ lãi suất thông qua Công ty đầu tư tài chính Nhà nước (HFIC), ưu tiên cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Đến nay đã có 14 dự án với tổng vốn hơn 2.000 tỷ đồng được phê duyệt hỗ trợ.
Song song đó, đề án Quỹ đầu tư mạo hiểm quy mô 5.000 tỷ đồng đến năm 2035 cũng được xem là bước đi đáng chú ý nhằm tạo lực đẩy cho các doanh nghiệp công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo và bán dẫn. Theo TS Đỗ Thiên Anh Tuấn, Giảng viên Trường Chính sách công và Quản lý thuộc Đại học Fulbright Việt Nam, nền kinh tế cần tới khoảng 40 triệu tỷ đồng vốn đầu tư để đạt mục tiêu tăng trưởng trong giai đoạn tới. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng vốn hiện còn thấp khi hệ số ICOR dao động 5 đến 6.
Ông Tuấn cho rằng kinh tế tư nhân phải trở thành động lực quan trọng nhất, đóng góp khoảng 60% tổng vốn đầu tư xã hội. Trong bối cảnh dư địa đầu tư công và FDI có giới hạn, đây là lực lượng duy nhất đủ khả năng lấp đầy khoảng trống vốn của nền kinh tế. Nếu tháo gỡ được các nút thắt về thể chế, minh bạch và đa dạng hóa kênh huy động vốn, doanh nghiệp Việt Nam sẽ có cơ hội lớn để bứt phá trong chu kỳ phát triển mới.
Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.