Bức tranh tái hiện hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Quốc dân Đại hội tại đình Tân Trào, Tuyên Quang. (Tranh sơn dầu: Họa sĩ Cao Thương)
Bước chuẩn bị chính trị cho chính quyền của nhân dân
Trong bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ 2 bước vào giai đoạn kết thúc tạo nên thời cơ đặc biệt thuận lợi cho cách mạng Việt Nam đứng lên giành chính quyền. Trước thời cơ "ngàn năm có một", lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chủ trương triệu tập Đại hội đại biểu Quốc dân nhằm hình thành một cơ cấu đại diện cho sự đoàn kết và thống nhất hành động của toàn thể quốc dân, đủ uy tín để lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập, đồng thời chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc xây dựng một chính quyền mới. Tuy nhiên, việc giành chính quyền bằng bạo lực cách mạng mới chỉ là bước đầu. Một vấn đề nan giải hơn đặt ra là làm thế nào để chính quyền mới được thiết lập có thể trở thành một chính quyền chính danh, được nhân dân thừa nhận và có đủ cơ sở pháp lý trước quốc dân và cộng đồng quốc tế.
Chính trong bối cảnh đó, ngày 16 và 17/8/1945, tại đình Tân Trào đã diễn ra Quốc dân Đại hội Tân Trào với sự tham dự của hơn 60 đại biểu đại diện cho cả 3 miền Bắc - Trung - Nam, đại diện cho các ngành, các giới, các dân tộc, các đảng phái chính trị, các đoàn thể cứu quốc và một số Việt kiều ở Thái Lan và Lào để bàn kế hoạch Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về Nhân dân.

Đình Tân Trào - nơi diễn ra Quốc dân Đại hội Tân Trào. Nguồn: TQ
Vì thế, Quốc dân Đại hội Tân Trào có vai trò như một cuộc hiệp thương chính trị rộng rãi đầu tiên của dân tộc trước thời điểm giành chính quyền. Chính sự gặp gỡ và thống nhất ý chí của các lực lượng ấy đã tạo nên sự đồng thuận chính trị rộng rãi, hình thành nền tảng đoàn kết toàn dân tộc cho cuộc Tổng khởi nghĩa, tiến đến mục tiêu xóa bỏ chế độ thực dân, phong kiến, đặt nền móng pháp lý đầu tiên cho một chế độ mới, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Đại hội đại biểu Quốc dân đã thông qua ba quyết định lớn: nhất trí tán thành chủ trương phát động Tổng khởi nghĩa của Đảng và Tổng bộ Việt Minh; thông qua 10 chính sách của Việt Minh và hiệu triệu đồng bào tích cực phấn đấu thực hiện, trong đó, điểm mấu chốt đầu tiên là giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên nền tảng hoàn toàn độc lập; thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Đại hội đã quy định Quốc kỳ là lá cờ đỏ có ngôi sao vàng 5 cánh ở giữa, Quốc ca là bài “Tiến quân ca".
Ngoài ra, Quốc dân Đại hội Tân Trào còn góp phần quan trọng chuẩn bị về mặt chính trị cho bước đi tiếp theo của cách mạng: xây dựng một chính quyền hợp pháp và hợp hiến. Từ sự hiệp thương ban đầu ấy, cách mạng Việt Nam đã tiến tới tổ chức cuộc tổng tuyển cử ngày 6/1/1946, một sự kiện diễn ra trong bối cảnh vô cùng khó khăn khi đất nước phải đối mặt với tình thế "thù trong giặc ngoài", "trên đe dưới búa" , nhiều thế lực chống phá và áp lực chính trị nặng nề. Tuy vậy, cuộc bầu cử vẫn được tổ chức thành công với sự tham gia rộng rãi của nhân dân cả nước.

Số báo đặc biệt của Quốc hội ra ngày Tổng tuyển cử
Chính quá trình hợp pháp hóa, hợp hiến hóa và chính danh hóa quyền lực nhà nước này đã trở thành một đặc điểm nổi bật của cách mạng Việt Nam. Nhiều công trình nghiên cứu chính trị sau này nhận xét rằng, so với nhiều chính quyền cách mạng do các đảng cộng sản lãnh đạo trong thế kỷ XX, chính quyền do chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã đặc biệt chú trọng đến việc thiết lập nền tảng hợp hiến và hợp pháp cho quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và lá phiếu của nhân dân. Chính điều đó đã tạo nên một cơ sở chính trị và pháp lý vững chắc cho nhà nước mới ra đời trong những năm đầu độc lập.
Trong kỳ họp đầu tiên năm 1946, Quốc hội đã chính thức thông qua quốc danh Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng ba tiêu ngữ "Độc lập - Tự do - Hạnh phúc". Ba tiêu ngữ ấy không chỉ là khẩu hiệu mang tính biểu tượng, mà còn thể hiện bản chất và cam kết của chính quyền mới: một nhà nước độc lập, không phụ thuộc vào bất kỳ thế lực ngoại bang nào; một nhà nước tự do, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân và một nhà nước hướng tới hạnh phúc của nhân dân như mục tiêu cao nhất.
Nhìn lại tiến trình cách mạng năm 1945, giá trị sâu xa của Quốc dân Đại hội Tân Trào không chỉ nằm ở việc phát lệnh tổng khởi nghĩa, mà còn ở tầm nhìn chính trị viễn kiến của người lãnh đạo đối với việc xây dựng và bảo vệ chính quyền sau khi giành được độc lập.
Theo GS.TSKH.NGND Vũ Minh Giang: "Trong lịch sử các cuộc cách mạng trên thế giới, giành được chính quyền đã là một nhiệm vụ rất khó khăn, nhưng giữ vững chính quyền còn khó khăn hơn nhiều. Một chính quyền được thiết lập bằng sức mạnh của phong trào cách mạng, nếu không nhanh chóng tạo dựng được cơ sở pháp lý và sự thừa nhận rộng rãi của nhân dân, sẽ khó có thể đứng vững trong bối cảnh nhiều biến động".

GS.TSKH.NGND Vũ Minh Giang cho rằng giành được chính quyền đã là một nhiệm vụ rất khó khăn, nhưng giữ vững chính quyền còn khó khăn hơn nhiều. (Ảnh: NVCC)
Cuộc bầu cử ngày 6/1/1946 vì thế không chỉ là một sự kiện chính trị quan trọng, mà còn là bước khẳng định quyền làm chủ của nhân dân đối với nhà nước mới ra đời. Thông qua lá phiếu của mình, người dân đã trực tiếp tham gia vào việc thiết lập cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, tạo nên cơ sở pháp lý và chính trị vững chắc cho chính quyền cách mạng.
Tư duy chiến lược ấy đã góp phần giúp chính quyền cách mạng non trẻ vượt qua những thử thách đặc biệt khó khăn trong những năm đầu độc lập. Đồng thời, nó cũng khẳng định một nguyên tắc xuyên suốt trong tiến trình phát triển của Nhà nước Việt Nam: quyền lực nhà nước phải bắt nguồn từ nhân dân và được nhân dân trao gửi thông qua các thiết chế dân chủ.
Sự tiếp nối của ý chí nhân dân
Gần tám thập kỷ đã trôi qua kể từ mùa thu lịch sử năm 1945, tinh thần đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân được khởi nguồn từ quá trình chuẩn bị ở Quốc dân Đại hội Tân Trào tiếp tục được thể hiện và phát huy trong hoạt động của Quốc hội. Với tư cách là cơ quan do nhân dân bầu ra, Quốc hội phải thực hiện chức năng của mình một cách sáng suốt, công tâm và minh bạch, bảo đảm lựa chọn đúng những người đủ năng lực và phẩm chất để gánh vác trọng trách trước nhân dân.
Chính phủ, Quốc hội còn có vai trò quan trọng trong việc giám sát hoạt động của bộ máy hành pháp cũng như các quyết sách lớn của quốc gia. Thông qua hoạt động giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, Quốc hội bảo đảm rằng mọi hoạt động của chính quyền đều phải hướng tới mục tiêu phục vụ nhân dân, đúng với bản chất của một nhà nước "của dân, do dân và vì dân".

Quang cảnh Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá XV
Từ tinh thần đó có thể thấy, trong một nhà nước của dân, do dân và vì dân, vai trò của cử tri giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Nhân dân không trực tiếp điều hành bộ máy nhà nước, nhưng thông qua lá phiếu của mình để lựa chọn ra cơ quan đại diện, tức Quốc hội và chính cơ quan này sẽ thay mặt nhân dân quyết định những vấn đề lớn của đất nước, đồng thời bầu ra Chính phủ để điều hành quốc gia. Vì vậy, việc lựa chọn đại biểu Quốc hội không chỉ là một quyền lợi chính trị của công dân mà còn là trách nhiệm đối với lợi ích của dân tộc và tương lai của đất nước.
Trước thềm bầu cử, mỗi cử tri cần ý thức rõ vai trò của mình trong quá trình này. Cử tri cũng cần chủ động tìm hiểu thông tin về các ứng cử viên, từ lý lịch, quá trình công tác đến năng lực và uy tín trong xã hội. Việc lựa chọn đại biểu Quốc hội không thể chỉ dựa trên cảm tính mà cần dựa trên sự cân nhắc thận trọng, nhằm tìm ra những người thật sự xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Khi mỗi cử tri thực hiện quyền bầu cử của mình một cách sáng suốt và có trách nhiệm, Quốc hội sẽ có được những đại biểu đủ năng lực, phẩm chất để gánh vác nhiệm vụ lớn lao trước đất nước.
Chính từ những lá phiếu của cử tri mà tinh thần đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, vốn đã được khởi nguồn từ quá trình chuẩn bị chính trị trước Tổng tuyển cử 1946 tiếp tục được phát huy trong đời sống chính trị ngày nay. Vì vậy, mỗi người dân cần tích cực tham gia bầu cử và có những chọn lựa sáng suốt. Sự tham gia đầy đủ, chủ động và sáng suốt của cử tri không chỉ bảo đảm để Quốc hội thực sự là cơ quan đại diện cho ý chí của nhân dân, mà còn góp phần củng cố sức mạnh của một Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Bình luận (0)