Giữ trọn lời hứa với Nhân dân
Giữ trọn lời hứa với Nhân dân - Ảnh 1.

Giữ trọn lời hứa với Nhân dân - Ảnh 2.

Sáng 26/4/2026, tại Khu Di tích lịch sử Đền Hùng (Phú Thọ), trong không khí trang nghiêm của ngày Giỗ Tổ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có cuộc trò chuyện thân tình với đồng bào và các em nhỏ.

Hình ảnh người đứng đầu Đảng, Nhà nước gần gũi giữa dòng người hành hương hôm ấy không chỉ để lại nhiều cảm xúc mà còn gợi ra một thông điệp ngày càng rõ hơn trong giai đoạn phát triển mới khi mọi chủ trương cuối cùng đều đang hướng tới con người và những đổi thay cụ thể trong đời sống.


Trong cuộc trò chuyện hôm ấy, nhiều cách đặt vấn đề của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gợi ra những suy nghĩ đáng chú ý về trách nhiệm và yêu cầu hành động trong giai đoạn phát triển mới. Đáng chú ý, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh: "giữ nước là bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; là bảo vệ hòa bình, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân; là giữ văn hóa, giữ đạo lý, giữ niềm tin, giữ lòng tự trọng dân tộc."

Cách diễn đạt ấy không chỉ mở rộng nội hàm của khái niệm "giữ nước" mà còn gợi ra một cách nhìn trực diện hơn về trách nhiệm. Ở đó, "giữ nước" không còn chỉ được hiểu theo nghĩa bảo vệ chủ quyền lãnh thổ mà còn là giữ gìn những giá trị tạo nên sức mạnh nội sinh của quốc gia, đó là niềm tin, đạo lý, văn hóa và phẩm giá dân tộc.

Giữ trọn lời hứa với Nhân dân - Ảnh 4.

Những cuộc gặp gỡ, lắng nghe của người đứng đầu Đảng, Nhà nước với bà con nhân dân cho thấy yêu cầu đưa chủ trương, chính sách đến gần hơn với đời sống thực tế.

Đặc biệt, việc người đứng đầu Đảng, Nhà nước nhắc tới cụm từ "tự trọng dân tộc" đã khơi gợi rất nhiều cảm xúc. Trong mạch diễn đạt ấy, cụm từ này không được đặt như một khái niệm mang tính lý luận cần giải thích mà như một chuẩn mực hành động. Điều được nhấn mạnh không nằm ở việc nói về chuẩn mực mà ở cách mỗi cá nhân, mỗi tổ chức tự soi chiếu vào hành vi của mình.

Có thể thấy, cách đặt vấn đề ấy gợi ra một chuyển dịch tinh tế nhưng đáng chú ý. Đó là sự chuyển đổi từ cảm xúc sang trách nhiệm. Nếu như trước đây, "tự hào dân tộc" thường được nhấn mạnh như một nguồn động lực tinh thần thì nay, "tự trọng dân tộc" dường như đặt ra một yêu cầu nghiêm khắc hơn – yêu cầu mỗi việc làm phải xứng đáng với những giá trị mà mình đại diện.

Trong cuộc trò chuyện cùng Thời báo VTV, PGS.TS Bùi Hoài Sơn – Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, ĐBQH khóa XVI chia sẻ, bản thân ông rất xúc động với cách Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhắc đến "lòng tự trọng dân tộc" trong không gian thiêng liêng của Đền Hùng trong ngày Giỗ Tổ. Tại đó, câu chuyện dựng nước, giữ nước không còn là ký ức xa xưa mà trở thành lời nhắc nhớ về trách nhiệm hôm nay. "Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nói rằng giữ nước hôm nay là giữ độc lập, chủ quyền, hòa bình, cuộc sống bình yên của nhân dân, nhưng cũng là "giữ văn hóa, giữ đạo lý, giữ niềm tin, giữ lòng tự trọng dân tộc"; đồng thời nhấn mạnh giữ nước còn là "giữ sự trong sạch của đội ngũ cán bộ, giữ niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và tương lai đất nước".

Theo tôi, "tự trọng dân tộc" hôm nay không chỉ là niềm tự hào về lịch sử, không chỉ là xúc cảm khi hướng về cội nguồn, mà phải trở thành chuẩn mực hành động. Với cán bộ, công chức, tự trọng dân tộc trước hết là tự trọng trong thi hành công vụ: không vô cảm trước khó khăn của dân, không né tránh trách nhiệm, không lợi dụng quyền lực, không để những biểu hiện nhũng nhiễu, hình thức, trì trệ làm tổn thương niềm tin của Nhân dân."

Giữ trọn lời hứa với Nhân dân - Ảnh 5.

Tinh thần phục vụ Nhân dân đang trở thành thước đo trực tiếp cho chất lượng hoạt động của bộ máy công quyền. TTXVN.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương cũng cho rằng, "một cán bộ có tự trọng là người biết xấu hổ khi công việc chậm trễ, biết day dứt khi lời hứa chưa hoàn thành, biết coi sự hài lòng của người dân là thước đo danh dự nghề nghiệp". Và vì thế, "tự trọng dân tộc phải bắt đầu từ tự trọng công vụ".

Nhìn ở góc độ rộng hơn, đây không chỉ là yêu cầu đối với từng cá nhân, mà còn là yêu cầu đối với toàn bộ bộ máy thực thi. Khi "tự trọng" trở thành một chuẩn mực trong hành động công vụ, thì những biểu hiện hình thức, sự dễ dãi trong lời nói hay tình trạng "nói nhiều làm ít" sẽ dần không còn chỗ đứng.

Từ gợi mở ấy, một yêu cầu quen thuộc được nhắc lại với sắc thái trực diện hơn: "đã nói thì phải làm, đã nhận trách nhiệm thì phải theo đến cùng". Đây không phải là một yêu cầu mới, nhưng trong bối cảnh hiện nay, khi kỳ vọng của xã hội ngày càng cao, khi người dân ngày càng trực tiếp theo dõi và đánh giá hiệu quả thực thi, thì yêu cầu ấy trở nên cụ thể và rõ ràng hơn bao giờ hết.

Trong nhiều năm, câu chuyện "nói đi đôi với làm" thường được nhắc tới như một chuẩn mực đạo đức công vụ. Nhưng hiện nay, yêu cầu đó không còn dừng ở mức một lời nhắc nhở mang tính nguyên tắc, mà đang trở thành một đòi hỏi trực tiếp từ xã hội.

"Người dân có thể chia sẻ với khó khăn, có thể chấp nhận những bước đi cần thời gian, nhưng điều họ cần nhất là thấy lời nói của bộ máy công quyền được chuyển hóa thành việc làm cụ thể, kết quả cụ thể, lợi ích cụ thể" – PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhìn nhận.

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, "nói đi đôi với làm không chỉ là một yêu cầu đạo đức công vụ mà là nguyên tắc vận hành của Nhà nước vì dân". Bởi hơn lúc nào hết, niềm tin xã hội hôm nay không còn được xây dựng bằng những khẩu hiệu lớn, mà bằng sự nhất quán giữa lời nói và hành động trong từng việc cụ thể hằng ngày.

Tinh thần ấy cũng được thể hiện rõ trong cách Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra những câu hỏi rất đời sống khi nói về phát triển. Thay vì chỉ dừng lại ở các mục tiêu tổng quát hay những chỉ số vĩ mô, yêu cầu phát triển được cụ thể hóa bằng những điều người dân có thể trực tiếp cảm nhận khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt ra câu hỏi trong buổi trò chuyện ngày hôm đó. "Con đường đến trường của trẻ em có thuận tiện hơn không? Trạm y tế có phục vụ người dân tốt hơn không? Người lao động có việc làm ổn định hơn không? Đời sống của người dân có được cải thiện rõ ràng hay không?"

Giữ trọn lời hứa với Nhân dân - Ảnh 6.

Hiệu quả phát triển được đo bằng những thay đổi cụ thể mà người dân có thể trực tiếp cảm nhận. TTXVN.

Xét về hình thức, những câu hỏi ấy đều rất giản dị. Nhưng chính sự giản dị đó lại tạo ra một cách tiếp cận khác đối với yêu cầu phát triển. Bởi khi hiệu quả được đo bằng những thay đổi cụ thể trong đời sống hằng ngày, thì mọi chủ trương, chính sách cũng đồng thời phải hướng tới việc trả lời những câu hỏi ấy bằng kết quả thực tế.

Và cũng chính từ những câu hỏi tưởng như rất nhỏ ấy, một thước đo mới dần hình thành. Không phải là những tiêu chí xa xôi mà là những điều người dân có thể cảm nhận trực tiếp trong đời sống của mình. Một con đường thuận tiện hơn, một dịch vụ y tế tốt hơn, một thủ tục hành chính nhanh hơn, một công việc ổn định hơn…

Trong thời đại mạng xã hội và truyền thông số, những thay đổi ấy không còn được cảm nhận một cách mơ hồ. Người dân đánh giá bộ máy công quyền không chỉ qua các báo cáo tổng kết hay những khẩu hiệu tuyên truyền mà qua chính trải nghiệm của họ trong đời sống hằng ngày.

Theo PGS. TS Bùi Hoài Sơn, "một cuộc hẹn bị chậm, một hồ sơ bị đẩy qua đẩy lại, một thái độ thiếu chuẩn mực ở bộ phận tiếp dân, một chính sách ban hành nhưng thực hiện không đồng đều giữa các địa phương… tất cả đều có thể trở thành 'dữ liệu niềm tin' trong cảm nhận xã hội".

Giữ trọn lời hứa với Nhân dân - Ảnh 7.

Mỗi trải nghiệm hành chính hằng ngày đều có thể trở thành 'dữ liệu niềm tin' trong cảm nhận xã hội.

Cũng theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, điều này đang tạo ra một áp lực thay đổi rất lớn nhưng cũng rất tích cực đối với hệ thống công quyền. "Áp lực đó buộc chúng ta phải chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ; từ đo bằng số lượng văn bản ban hành sang đo bằng mức độ hài lòng của người dân; từ làm đúng quy trình sang làm đúng mục tiêu, đúng trách nhiệm, đúng thời hạn và đúng tinh thần vì dân".

Thực tế cho thấy, trong bối cảnh thông tin ngày càng minh bạch, người dân có điều kiện quan sát trực tiếp hơn quá trình thực thi chính sách. Một việc được giải quyết nhanh hay chậm, một phản ánh được tiếp nhận nghiêm túc hay bị bỏ qua, một cán bộ tận tụy hay vô cảm… đều có thể trở thành căn cứ để xã hội đánh giá chất lượng hoạt động của bộ máy.

Điều đó cũng đồng nghĩa với việc, mọi biểu hiện hình thức, mọi khoảng cách giữa lời nói và hành động sẽ ngày càng khó che lấp. Khi kỳ vọng của xã hội ngày càng cao thì yêu cầu về trách nhiệm trong tổ chức thực hiện cũng ngày càng trực diện hơn.

Tinh thần ấy tiếp tục được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh trong buổi làm việc với Thành phố Hồ Chí Minh ngày 27/4/2026. Tại đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu các nghị quyết phải được chuyển thành chương trình hành động cụ thể, làm rõ đầu việc, người thực hiện, người chịu trách nhiệm và thời gian hoàn thành.

"Phải có thời gian, lộ trình, bước đi và người chịu trách nhiệm, qua đó đánh giá công tác cán bộ, hoạt động của bộ máy" – yêu cầu ấy cho thấy một cách tiếp cận rất rõ ràng. Đó là, mọi chủ trương chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành kết quả cụ thể trong thực tế.

Một cách rất thẳng thắn, người đứng đầu Đảng, Nhà nước yêu cầu Thành phố Hồ Chí Minh phải biến các nghị quyết chiến lược của Trung ương thành "thực tiễn sống động", không để tình trạng "viết hay, nói hay nhưng làm dở, không có hiệu quả".

Có thể thấy, trong cách đặt vấn đề ấy, khoảng cách giữa định hướng và thực thi đang được nhìn nhận trực diện hơn. Một chủ trương đúng, nếu không được triển khai đầy đủ, đồng bộ và kịp thời, thì hiệu quả đạt được sẽ khó như mong muốn. Ngược lại, khi việc tổ chức thực hiện được chú trọng, thì chính sách sẽ dần đi vào đời sống một cách thực chất hơn.

Trên thực tế, trong quá trình triển khai vẫn còn tồn tại những khoảng cách nhất định giữa định hướng và kết quả. Có những việc đã được xác định rõ từ chủ trương nhưng khi đi vào thực hiện lại gặp những vướng mắc cụ thể; có những nhiệm vụ đã được giao nhưng quá trình phối hợp còn thiếu đồng bộ; có những chính sách đúng nhưng hiệu quả triển khai ở từng nơi lại chưa giống nhau.

Ở một số địa phương, những khó khăn ấy được xử lý khá kịp thời, tạo ra chuyển biến rõ nét. Nhưng cũng có những nơi, việc triển khai còn chậm, còn thiếu tính quyết liệt, khiến hiệu quả chưa đạt như kỳ vọng. Điều này cho thấy, bên cạnh định hướng đúng, yếu tố quyết định cuối cùng vẫn là cách tổ chức thực hiện.

Chính trong những khoảng cách đó, yêu cầu về trách nhiệm trở nên rõ hơn. Khi từng khâu trong quá trình triển khai đều được theo dõi chặt chẽ, khi trách nhiệm được xác định cụ thể, khi hiệu quả được đo bằng kết quả thực chất thay vì chỉ bằng tiến độ hình thức, thì khả năng đưa chủ trương vào cuộc sống cũng sẽ cao hơn.

Nhìn rộng ra, những gợi mở trong cách diễn đạt của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng cho thấy một sự nhất quán trong việc khẳng định vai trò của Nhân dân. Quan điểm "Dân là gốc" tiếp tục được nhấn mạnh trong các phát biểu quan trọng, nhưng đồng thời được đặt trong yêu cầu cụ thể hơn về tổ chức thực hiện.

Tại Lễ nhậm chức Chủ tịch nước ngày 7/4/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: "trọng tâm hàng đầu là quán triệt sâu sắc, thực hành triệt để quan điểm 'Dân là gốc', phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của Nhân dân, huy động sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mục tiêu cao nhất, đích đến cuối cùng là Nhân dân được thụ hưởng thành quả của phát triển".

Khi được đặt trong mối liên hệ với những yêu cầu cụ thể về phát triển, quan điểm ấy cho thấy một sự nhất quán rõ ràng. Mọi chủ trương đều phải hướng tới người dân và được đánh giá thông qua mức độ cải thiện đời sống của người dân.

Điều đó cũng đồng nghĩa với việc, quá trình triển khai không thể chỉ dừng lại ở việc ban hành chính sách, mà cần được theo dõi, đánh giá thường xuyên để bảo đảm hiệu quả thực chất. Một chính sách chỉ thực sự có ý nghĩa khi người dân có thể cảm nhận được tác động của nó trong đời sống hằng ngày.

Trò chuyện với Thời báo VTV, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương cho rằng, trong giai đoạn hiện nay, điều Nhân dân chờ đợi không chỉ là những tầm nhìn lớn hay các mục tiêu dài hạn, mà là năng lực biến những tầm nhìn ấy thành kết quả cụ thể.

"Một nghị quyết lớn chỉ thật sự có sức sống khi tạo ra thay đổi cụ thể ở từng cộng đồng, từng gia đình, từng số phận con người" – ông Sơn nhấn mạnh.

Nhìn rộng hơn, trong bối cảnh đất nước vừa trải qua những sự kiện chính trị quan trọng như Đại hội XIV của Đảng, cuộc bầu cử Quốc hội khóa XVI và quá trình kiện toàn bộ máy lãnh đạo, những yêu cầu ấy càng trở nên rõ ràng hơn.

Nếu như Đại hội xác định định hướng, bầu cử thể hiện sự lựa chọn và kỳ vọng của Nhân dân, thì quá trình triển khai chính là khâu quyết định để các định hướng ấy đi vào cuộc sống. Mỗi giai đoạn đều có vai trò riêng nhưng đều hướng tới mục tiêu cuối cùng là nâng cao hiệu quả phát triển và cải thiện đời sống của người dân.

Trong mạch nguồn đó, yêu cầu về trách nhiệm, về việc thực hiện đến cùng, không phải là những điều tách rời mà gắn liền với toàn bộ quá trình vận hành của bộ máy.

Và cũng chính từ đây, một câu hỏi tiếp theo được đặt ra. Làm thế nào để các cam kết không chỉ dừng lại ở việc được xác lập mà thực sự đi vào cuộc sống một cách rõ ràng, bền vững và có thể cảm nhận được?

Giữ trọn lời hứa với Nhân dân - Ảnh 8.

Giữ trọn lời hứa với Nhân dân - Ảnh 9.

Từ những gợi mở về trách nhiệm và yêu cầu hành động đã được đặt ra ở phần trước, một vấn đề tiếp theo dần trở nên rõ hơn. Đó là làm thế nào để những cam kết không chỉ dừng lại ở định hướng mà thực sự đi vào cuộc sống một cách đồng bộ và hiệu quả?

Nếu nhìn lại quá trình vận hành trong thời gian gần đây, có thể nhận thấy một mạch liên kết tương đối rõ. Đầu tiên là việc xác định định hướng ở tầm tổng thể, tiếp đó là sự lựa chọn và kỳ vọng của Nhân dân thông qua lá phiếu và sau cùng là quá trình tổ chức thực hiện. Mỗi khâu đều có vai trò riêng nhưng đều hướng tới một yêu cầu chung. Đưa các chủ trương, chính sách đi vào thực tế một cách rõ ràng, cụ thể và có thể kiểm chứng.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác định những định hướng lớn cho giai đoạn phát triển tiếp theo. Những định hướng ấy không chỉ dừng ở việc đề ra mục tiêu mà còn nhấn mạnh yêu cầu đổi mới cách làm, nâng cao hiệu quả thực hiện, gắn chặt hơn giữa định hướng và kết quả.

Trong mạch đó, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp ngày 15/3/2026 không chỉ là một sự kiện theo quy định của pháp luật mà còn thể hiện sự lựa chọn và kỳ vọng của Nhân dân đối với những người được trao trách nhiệm đại diện.

Giữ trọn lời hứa với Nhân dân - Ảnh 10.

Mỗi lá phiếu không chỉ là sự lựa chọn mà còn gửi gắm kỳ vọng về trách nhiệm và hiệu quả thực thi.

Khi mỗi lá phiếu được gửi đi, đó không chỉ là sự lựa chọn mà còn là sự gửi gắm niềm tin. Kỳ vọng về việc những người được lựa chọn sẽ thực hiện tốt vai trò của mình, sẽ góp phần đưa các chủ trương, chính sách vào cuộc sống hiệu quả hơn, gần dân hơn và thực chất hơn.

Tuy nhiên, điều quyết định không dừng lại ở việc lựa chọn. Sau khi bộ máy được kiện toàn, sau khi các vị trí được phân công, quá trình tổ chức thực hiện mới thực sự bắt đầu. Và cũng chính ở giai đoạn này, yêu cầu về trách nhiệm, về việc "theo đến cùng" được đặt ra một cách trực diện hơn.

Trong các phát biểu gần đây của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, có thể nhận thấy một điểm nhấn đáng chú ý là yêu cầu không để xảy ra độ trễ giữa cam kết và hành động. Khi kỳ vọng của xã hội ngày càng cao, khi thông tin ngày càng minh bạch, thì mọi sự chậm trễ đều dễ dàng được nhận thấy và đánh giá.

Trao đổi với Thời báo VTV, PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng, trong thời đại mạng xã hội và truyền thông số, người dân ngày nay đánh giá bộ máy công quyền không chỉ qua các báo cáo tổng kết, mà qua chính trải nghiệm của họ trong đời sống hằng ngày. "Một cuộc hẹn bị chậm, một hồ sơ bị đẩy qua đẩy lại, một thái độ thiếu chuẩn mực ở bộ phận tiếp dân, một chính sách ban hành nhưng thực hiện không đồng đều giữa các địa phương… tất cả đều có thể trở thành 'dữ liệu niềm tin' trong cảm nhận xã hội".

Giữ trọn lời hứa với Nhân dân - Ảnh 11.

Người dân ngày càng đánh giá hiệu quả quản lý qua những trải nghiệm cụ thể trong đời sống. TTXVN.

Cách nhìn ấy cho thấy một thay đổi rất đáng chú ý trong yêu cầu quản trị hiện đại. Nếu trước đây, hiệu quả điều hành phần nào còn được đánh giá qua tốc độ ban hành chủ trương hay quy mô kế hoạch, thì hiện nay, người dân quan tâm nhiều hơn tới kết quả cụ thể mà họ trực tiếp cảm nhận được.

Một thủ tục hành chính có nhanh hơn không? Một phản ánh của người dân có được tiếp nhận nghiêm túc không? Một hồ sơ có còn phải đi lại nhiều lần không? Một cán bộ có tận tình hướng dẫn hay vẫn giữ khoảng cách hành chính cứng nhắc? Chính những điều rất cụ thể ấy đang trở thành "thước đo thực tế" đối với chất lượng vận hành của bộ máy.

Việc triển khai các nhiệm vụ ngay sau khi bộ máy được kiện toàn vì thế mang ý nghĩa rất quan trọng. Không chỉ là yêu cầu về tiến độ mà còn là cách thể hiện trách nhiệm trước Nhân dân. Khi công việc được bắt tay thực hiện sớm, được triển khai một cách rõ ràng, thì niềm tin cũng được củng cố từ chính những bước đi cụ thể ấy.

Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận khách quan rằng, việc đưa các chủ trương vào thực tế luôn là một quá trình phức tạp. Không phải mọi vấn đề đều có thể giải quyết trong thời gian ngắn, và không phải mọi khó khăn đều có thể tháo gỡ ngay lập tức. Điều quan trọng nằm ở cách tiếp cận, tinh thần trách nhiệm và cách tổ chức thực hiện.

Trong nhiều trường hợp, sự khác biệt không nằm ở chủ trương, mà nằm ở cách triển khai. Có những nơi, cùng một định hướng nhưng kết quả đạt được lại khác nhau. Điều đó cho thấy vai trò của yếu tố con người, của tinh thần trách nhiệm và của năng lực tổ chức thực hiện.

Một chủ trương khi được ban hành, nếu được triển khai đồng bộ, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, thì hiệu quả đạt được thường rõ ràng hơn. Ngược lại, nếu việc triển khai thiếu liên kết, thiếu thống nhất, hoặc còn tâm lý chờ đợi, né tránh trách nhiệm, thì dù chủ trương đúng, kết quả cũng khó đạt như kỳ vọng.

Ở góc độ này, yêu cầu "theo đến cùng" không chỉ dành cho một cá nhân mà là yêu cầu đối với toàn bộ quá trình. Từ khâu xây dựng chính sách, triển khai, giám sát đến đánh giá kết quả, mỗi bước đều cần được thực hiện một cách nghiêm túc và có trách nhiệm.

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, áp lực từ sự minh bạch thông tin hiện nay đang buộc hệ thống công quyền phải thay đổi mạnh hơn trong cách vận hành. "Áp lực đó buộc chúng ta phải chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ; từ đo bằng số lượng văn bản ban hành sang đo bằng mức độ hài lòng của người dân; từ làm đúng quy trình sang làm đúng mục tiêu, đúng trách nhiệm, đúng thời hạn và đúng tinh thần vì dân".

Thực tế cho thấy, đây không còn là yêu cầu mang tính lý thuyết. Trong thời gian gần đây, nhiều chuyển động cụ thể đã cho thấy tinh thần "triển khai đến cùng" đang được đặt ra rõ nét hơn trong điều hành thực tiễn.

Ngay sau khi kiện toàn bộ máy, nhiều bộ, ngành và địa phương đã tập trung rà soát tiến độ các dự án tồn đọng, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, tháo gỡ vướng mắc cho sản xuất – kinh doanh và xử lý các điểm nghẽn kéo dài nhiều năm.

Giữ trọn lời hứa với Nhân dân - Ảnh 12.

Những công trình được triển khai đúng tiến độ là cách cụ thể hóa các cam kết bằng hành động thực tế.

Đây không phải là những vấn đề mới nhưng cách tiếp cận đã có sự thay đổi đáng chú ý. Thay vì chờ hoàn thiện toàn bộ cơ chế, nhiều nơi chủ động xử lý từng việc cụ thể trong phạm vi thẩm quyền, đồng thời tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu trong từng khâu triển khai.

Cùng với đó, tại các phiên họp Chính phủ đầu nhiệm kỳ, Thủ tướng Lê Minh Hưng cũng nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu "không để công việc tồn đọng kéo dài, không để khoảng trống trách nhiệm trong thực thi".

Thông điệp ấy, khi đặt trong tổng thể các yêu cầu về trách nhiệm đã được nhấn mạnh thời gian gần đây, cho thấy một điểm chung: mọi cam kết cần được chuyển hóa thành hành động cụ thể, có thời hạn và có kết quả rõ ràng.

Giữ trọn lời hứa với Nhân dân - Ảnh 13.

Yêu cầu 'đã nói là làm, đã làm là làm đến cùng' đang được nhấn mạnh trong thực tiễn điều hành.

Những động thái như vậy, dù mới ở giai đoạn đầu, nhưng đã góp phần tạo ra một tín hiệu tích cực khi khoảng cách giữa định hướng và thực thi đang được thu hẹp theo hướng chủ động hơn, rõ ràng hơn.

Và cũng chính từ những chuyển động cụ thể này, yêu cầu về "làm đến cùng" không còn chỉ là một nhấn mạnh mang tính nguyên tắc, mà dần trở thành tiêu chí để đánh giá hiệu quả vận hành của bộ máy trong thực tế.

Một điểm đáng chú ý khác là yêu cầu nâng cao chất lượng đối thoại và tiếp nhận phản hồi từ người dân. Khi người dân được tham gia nhiều hơn vào quá trình phản ánh, giám sát và đánh giá thì các chính sách cũng có điều kiện được điều chỉnh phù hợp hơn với thực tiễn.

Quan điểm "Dân là gốc", khi đặt trong mối liên hệ với quá trình tổ chức thực hiện, không chỉ dừng lại ở việc khẳng định vai trò của Nhân dân mà còn đòi hỏi những cơ chế cụ thể để phát huy vai trò ấy. Từ việc lắng nghe ý kiến, tiếp nhận phản ánh đến việc xử lý những vấn đề người dân quan tâm – tất cả đều góp phần tạo nên hiệu quả chung.

Tuy nhiên, việc phát huy vai trò của Nhân dân cũng cần được đặt trong một cách tiếp cận thực chất hơn. Không chỉ là tiếp nhận ý kiến, mà còn là cách xử lý, phản hồi và giải quyết các vấn đề một cách rõ ràng, minh bạch và có trách nhiệm.

Khi quá trình này được thực hiện tốt, niềm tin sẽ được củng cố một cách tự nhiên. Ngược lại, nếu việc tiếp nhận chỉ dừng ở hình thức, hoặc phản ánh của người dân không được xử lý đến nơi đến chốn, thì khoảng cách giữa chủ trương và thực tế sẽ khó được thu hẹp.

Giữ trọn lời hứa với Nhân dân - Ảnh 14.

Lắng nghe và giải quyết những vấn đề người dân quan tâm là cách củng cố niềm tin từ thực tế.

Một thực tế có thể nhận thấy, ở những nơi công việc được triển khai rõ ràng, có trách nhiệm, có sự theo dõi và điều chỉnh kịp thời thì hiệu quả đạt được thường rõ nét hơn. Người dân ở những nơi đó cũng dễ dàng cảm nhận được sự thay đổi, từ đó tạo ra sự đồng thuận xã hội cao hơn.

Ngược lại, ở những nơi việc triển khai còn chậm, còn thiếu sự rõ ràng hoặc còn biểu hiện đùn đẩy trách nhiệm, thì dù chủ trương đúng, kết quả vẫn khó đạt được như mong muốn. Điều này cho thấy, bên cạnh việc xác định đúng định hướng, yếu tố quyết định cuối cùng vẫn là chất lượng tổ chức thực hiện.

Trong bối cảnh hiện nay, khi yêu cầu về hiệu quả ngày càng cao, thì việc nâng cao chất lượng thực thi trở thành một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Không chỉ là hoàn thành công việc, mà là hoàn thành công việc với chất lượng tốt hơn, hiệu quả rõ ràng hơn và có thể kiểm chứng được bằng thực tế.

Từ góc nhìn đó, có thể thấy một yêu cầu đang dần được định hình rõ hơn. Đó là mọi cam kết cần được cụ thể hóa bằng hành động, và hành động ấy cần được triển khai một cách nhất quán, đồng bộ và đến cùng.

Nếu phải chọn một yêu cầu quan trọng nhất trong giai đoạn hiện nay, Bùi Hoài Sơn cho rằng đó là kỷ luật thực thi gắn với trách nhiệm trước Nhân dân. "Một chính sách đúng chỉ thật sự có ý nghĩa khi đến được với người dân; một nghị quyết lớn chỉ thật sự có sức sống khi tạo ra thay đổi cụ thể ở từng cộng đồng, từng gia đình, từng số phận con người".

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn,"Kỷ luật thực thi không chỉ là kiểm tra, đôn đốc, xử lý trách nhiệm, mà còn là văn hóa làm việc mới: đã nói là làm, đã làm là làm đến cùng, đã có mục tiêu thì phải đo được kết quả, đã nhận nhiệm vụ thì phải chịu trách nhiệm đến nơi đến chốn. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh rằng mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, phải dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung, đặt kết quả phục vụ Nhân dân làm thước đo cao nhất cho hiệu quả công việc.".

Có thể thấy, đây không chỉ là yêu cầu đối với từng cá nhân mà còn là yêu cầu đối với toàn bộ hệ thống. Khi từng khâu trong quá trình triển khai đều được chú trọng, khi trách nhiệm được xác định cụ thể và hiệu quả được đo bằng kết quả thực chất thì khả năng đưa chủ trương vào cuộc sống cũng sẽ cao hơn.

Từ những phân tích trên có thể thấy, khoảng cách giữa cam kết và thực tế – nếu có – không phải là điều không thể thu hẹp. Vấn đề nằm ở cách tiếp cận, tinh thần trách nhiệm và chất lượng tổ chức thực hiện.

Và chính từ đây, một vấn đề tiếp theo được đặt ra. Khi các cam kết đã được cụ thể hóa bằng hành động, khi quá trình triển khai đã được chú trọng hơn, thì yếu tố nào sẽ quyết định việc niềm tin của Nhân dân được duy trì và củng cố một cách bền vững?

Đó không chỉ là câu chuyện của một giai đoạn mà còn là vấn đề mang tính lâu dài, gắn với toàn bộ quá trình phát triển.

Từ trách nhiệm trong lời nói, đến yêu cầu trong hành động, rồi đến kết quả trong thực tế – tất cả tạo thành một mạch liên kết chặt chẽ. Và chính trong mạch liên kết ấy, niềm tin của Nhân dân không chỉ được hình thành mà còn được thử thách và củng cố qua từng bước đi cụ thể.

Đó cũng là nội dung sẽ được tiếp tục nhìn nhận ở phần sau, khi vấn đề niềm tin được đặt trong mối liên hệ trực tiếp hơn với những biểu hiện cụ thể trong đời sống hằng ngày.

Giữ trọn lời hứa với Nhân dân - Ảnh 15.

Từ những yêu cầu đã được đặt ra về trách nhiệm và cách tổ chức thực hiện ở hai phần trước, câu hỏi cuối cùng – và cũng là câu hỏi khó nhất – dần hiện ra rõ ràng hơn. Đó là điều gì quyết định việc niềm tin của Nhân dân được duy trì và củng cố một cách bền vững?

Nếu như ở phần đầu bài viết, vấn đề được đặt ra từ một gợi mở về chuẩn mực hành động; đến việc yêu cầu chuyển hóa cam kết thành triển khai, thì ở phần này, câu chuyện trở về với thước đo cuối cùng, kết quả mà người dân thực sự cảm nhận trong đời sống hằng ngày.

Giữ trọn lời hứa với Nhân dân - Ảnh 16.

Chuyển đổi số chỉ thực sự có ý nghĩa khi người dân cảm nhận được sự thuận tiện và minh bạch.

Trong thực tế, niềm tin không phải là một khái niệm trừu tượng. Nó không hình thành từ những phát biểu, cũng không được duy trì bằng việc nhắc lại những nguyên tắc đã có. Niềm tin được tích lũy từ những trải nghiệm cụ thể; từ những lần người dân tiếp cận với bộ máy công quyền; từ cách các vấn đề được giải quyết; từ sự minh bạch, nhất quán và trách nhiệm trong hành động.

Có thể thấy, trong những năm gần đây, nhiều nỗ lực đã được triển khai theo hướng này. Theo các báo cáo công bố trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ và Bộ Nội vụ, chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) liên tục được cải thiện qua các năm. Nhiều địa phương đạt mức hài lòng trên 80%. Đây là một tín hiệu tích cực, cho thấy những chuyển biến trong cách tiếp cận và tổ chức thực hiện.

Tuy nhiên, nếu nhìn kỹ hơn, có thể nhận thấy một thực tế. Đó là sự cải thiện chưa đồng đều. Có những nơi, người dân cảm nhận rõ sự thay đổi – từ việc giải quyết thủ tục nhanh hơn, minh bạch hơn đến việc tiếp nhận và phản hồi thông tin kịp thời hơn. Nhưng cũng có những nơi, những lĩnh vực mà sự thay đổi còn chậm, còn thiếu tính ổn định và chưa đáp ứng được kỳ vọng thực tế.

Điều này cho thấy một vấn đề cốt lõi, niềm tin không phải là kết quả của một quyết định đơn lẻ, mà là hệ quả của cả một quá trình. Một chính sách đúng, nếu được triển khai hiệu quả, sẽ góp phần bồi đắp niềm tin. Nhưng nếu việc triển khai còn hạn chế, thiếu nhất quán hoặc chưa đi tới cùng, thì chính sách ấy cũng khó đạt được hiệu quả như mong muốn.

Ở góc độ này, có thể thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa trách nhiệm trong hành động và niềm tin của Nhân dân. Khi mỗi việc làm được thực hiện nghiêm túc, khi mỗi cam kết được theo đuổi đến cùng, thì niềm tin sẽ dần được hình thành một cách tự nhiên.

Trong cuộc trò chuyện cùng Thời báo VTV, PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng, niềm tin xã hội sẽ không được tạo ra bằng những lời khẳng định mang tính khẩu hiệu mà phải bằng chính kết quả người dân cảm nhận được trong cuộc sống hằng ngày. "Một việc nhỏ được làm đến nơi đến chốn, một thủ tục được giải quyết nhanh hơn, một người dân yếu thế được chăm lo tốt hơn, một lời hứa được thực hiện nghiêm túc… lại có sức củng cố niềm tin rất lớn".

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, "niềm tin xã hội không được xây dựng bằng khẩu hiệu mà bằng sự nhất quán giữa lời nói và hành động hằng ngày". Và cũng chính vì thế, mỗi biểu hiện trì trệ, né tránh trách nhiệm hay nói mà không làm đều không chỉ ảnh hưởng tới hiệu quả công việc mà còn tác động trực tiếp đến cảm nhận và sự tin tưởng của người dân.

Một yếu tố khác cũng cần được nhìn nhận là cách thức người dân tiếp cận và đánh giá thông tin trong bối cảnh hiện nay. Với sự phát triển mạnh của công nghệ số và các nền tảng truyền thông, thông tin không còn đi theo một chiều. Người dân có thể dễ dàng tiếp cận, so sánh và đánh giá.

Trong công tác chuyển đổi số và cải cách hành chính, việc triển khai dịch vụ công trực tuyến, số hóa quy trình đã giúp giảm thời gian, chi phí cho người dân và doanh nghiệp. Những thay đổi này, khi được thực hiện hiệu quả, không chỉ mang lại tiện ích, mà còn góp phần củng cố niềm tin thông qua trải nghiệm thực tế.

Tuy nhiên, chính trong môi trường thông tin mở ấy, những hạn chế hay điểm nghẽn nếu không được xử lý kịp thời cũng dễ dàng bị nhận diện. Một thủ tục kéo dài, một phản hồi chậm trễ, một cách ứng xử chưa phù hợp… đều có thể trở thành những yếu tố làm suy giảm niềm tin xã hội.

Đặc biệt, trong bối cảnh năm 2026, khi không gian mạng trở thành môi trường cạnh tranh gay gắt của các luồng thông tin và quan điểm khác nhau, việc giữ trọn lời hứa với Nhân dân không chỉ còn là yêu cầu quản trị mà còn mang ý nghĩa của một cuộc đấu tranh trực diện về niềm tin.

Những thông tin xuyên tạc, kích động hay hoài nghi thường không xuất phát từ khoảng trống lý luận, mà khai thác chính những khoảng trống trong tổ chức thực hiện, trong hiệu quả quản trị và trong sự chậm trễ của bộ máy.

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh hiện nay không chỉ dừng lại ở việc phản bác các quan điểm sai trái trên không gian mạng, mà sâu xa hơn là làm cho người dân nhìn thấy tính đúng đắn của đường lối bằng chính sự đổi thay trong cuộc sống hằng ngày.

"Nền tảng tư tưởng không tồn tại như một khái niệm trừu tượng ngoài đời sống. Nó hiện diện trong việc người dân có được chăm sóc y tế tốt hơn không, con em họ có cơ hội học tập tốt hơn không, người lao động có việc làm bền vững hơn không, doanh nghiệp có môi trường kinh doanh minh bạch hơn không, những người yếu thế có được bảo vệ tốt hơn không…"

PGS.TS Bùi Hoài Sơn cũng cho rằng, khi chính sách đi vào cuộc sống, khi bộ máy vận hành hiệu quả, khi công lý và công bằng được bảo đảm thì đó chính là sức thuyết phục lớn nhất của nền tảng tư tưởng.

"Không có luận cứ nào mạnh hơn kết quả thực chất; không có tuyên truyền nào bền hơn sự hài lòng của Nhân dân; không có sức đề kháng nào hiệu quả hơn một xã hội mà người dân tin rằng Đảng, Nhà nước nói thật, làm thật và làm vì dân" – PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh.

Giữ trọn lời hứa với Nhân dân - Ảnh 17.

Niềm tin xã hội được bồi đắp từ những kết quả cụ thể trong đời sống hằng ngày. TTXVN

Có thể thấy, trong cách tiếp cận ấy, niềm tin không còn được nhìn như một trạng thái cảm xúc đơn thuần mà là kết quả trực tiếp của hiệu quả quản trị và chất lượng thực thi.

Trong bối cảnh đó, yêu cầu về tính minh bạch, về sự nhất quán trong hành động trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Khi thông tin được công khai, khi quá trình triển khai được theo dõi rõ ràng, thì việc giữ vững niềm tin không thể chỉ dựa vào lời nói, mà phải dựa vào kết quả cụ thể.

Một minh chứng rõ hơn có thể thấy trong lĩnh vực đầu tư công. Theo các báo cáo được công bố, việc đẩy nhanh giải ngân đầu tư công trong thời gian gần đây được xác định là một nhiệm vụ trọng tâm nhằm tạo động lực cho tăng trưởng và giải quyết các điểm nghẽn hạ tầng.

Ở những nơi việc triển khai quyết liệt, các dự án được thúc đẩy nhanh hơn, tạo ra chuyển biến rõ rệt trong thực tế. Ngược lại, ở những nơi còn chậm, hiệu quả mang lại chưa tương xứng với kỳ vọng và sự đồng thuận xã hội cũng bị ảnh hưởng phần nào.

Từ những ví dụ ấy có thể thấy một điểm chung, khi hành động đi vào thực chất thì niềm tin được củng cố. Khi hành động chưa theo kịp yêu cầu thì niềm tin cũng sẽ bị tác động.

Trong các phát biểu gần đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu "lắng nghe Nhân dân, đối thoại với Nhân dân, giải quyết những việc dân cần, dân lo, dân mong". Đây không chỉ là một định hướng mà còn là một cách tiếp cận cụ thể trong quá trình tổ chức thực hiện.

Thực tế cho thấy, ở những nơi việc đối thoại được thực hiện nghiêm túc, việc tiếp nhận và giải quyết ý kiến được triển khai rõ ràng, thì sự đồng thuận của người dân thường cao hơn. Người dân không chỉ quan tâm việc vấn đề có được giải quyết hay không mà còn quan tâm cách thức giải quyết có minh bạch, có trách nhiệm và có cầu thị hay không.

Điều đó đặt ra một yêu cầu rõ ràng, sự lắng nghe phải đi liền với hành động. Khi ý kiến được tiếp nhận nhưng không được xử lý, hoặc xử lý chưa đến nơi đến chốn thì hiệu quả sẽ bị hạn chế. Ngược lại, khi mỗi phản ánh đều được xem xét nghiêm túc, niềm tin sẽ được củng cố từ chính những việc làm cụ thể ấy.

Ở một góc độ khác, có thể thấy niềm tin còn gắn chặt với tính nhất quán trong hành động. Khi các quy định được thực hiện đồng bộ, khi các quyết định được triển khai rõ ràng, thì người dân sẽ có cơ sở để tin tưởng. Ngược lại, nếu tồn tại sự khác biệt quá lớn trong cách thực hiện hoặc trong trách nhiệm của từng nơi, từng cấp, thì niềm tin cũng sẽ bị ảnh hưởng.

Trong bối cảnh đó, yêu cầu về kỷ cương, về trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Khi mỗi cán bộ, mỗi cơ quan đều ý thức rõ vai trò của mình, thực hiện công việc một cách nghiêm túc, thì hiệu quả chung sẽ được nâng lên.

Nhìn lại toàn bộ mạch liên kết từ đầu bài viết, có thể thấy một chuỗi logic tương đối rõ. Bắt đầu từ gợi mở về chuẩn mực hành động, đến yêu cầu về trách nhiệm trong triển khai, và cuối cùng là kết quả được phản ánh trong niềm tin của Nhân dân.

"Tự trọng dân tộc", khi đặt trong mạch suy nghĩ ấy, không còn là một cách diễn đạt mang tính khái quát, mà trở thành một yêu cầu cụ thể. Mỗi việc làm phải xứng đáng với niềm tin được trao gửi. Quan điểm "Dân là gốc" cũng không dừng lại ở khẩu hiệu mà được cụ thể hóa bằng việc người dân thực sự được thụ hưởng thành quả của phát triển.

Và chính trong sự gắn kết giữa những yếu tố ấy, niềm tin không chỉ được hình thành mà còn được thử thách và củng cố qua từng bước đi cụ thể.

Trong bối cảnh đất nước đang tiếp tục phát triển với nhiều cơ hội và thách thức, việc giữ vững và củng cố niềm tin của Nhân dân không chỉ là một yêu cầu chính trị – xã hội, mà còn là điều kiện quan trọng để bảo đảm sự phát triển bền vững.

Niềm tin không thể được xây dựng trong thời gian ngắn nhưng có thể bị ảnh hưởng nếu những yêu cầu về trách nhiệm không được thực hiện đầy đủ. Ngược lại, khi mỗi cam kết được theo đuổi đến cùng, khi mỗi việc làm đều hướng tới hiệu quả thực chất thì niềm tin sẽ được bồi đắp ngày một vững chắc hơn.

Trong buổi trò chuyện cùng Thời báo VTV, PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng, trong giai đoạn hiện nay, điều Nhân dân chờ đợi không chỉ là những tầm nhìn lớn hay các mục tiêu dài hạn mà còn là năng lực biến những tầm nhìn ấy thành kết quả cụ thể trong đời sống.

"Một nghị quyết lớn chỉ thật sự có sức sống khi tạo ra thay đổi cụ thể ở từng cộng đồng, từng gia đình, từng số phận con người" – PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh.

Có lẽ, khi nhìn nhận một cách đầy đủ, không khó để thấy một điều giản dị nhưng có ý nghĩa sâu xa, đó là niềm tin của Nhân dân không đến từ những gì được nói ra mà từ những gì được làm và được cảm nhận trong thực tế.

Giữ vững niềm tin ấy, vì thế, không chỉ là giữ vững một trạng thái tâm lý xã hội mà còn là giữ vững nền tảng cho sự phát triển lâu dài của đất nước. Mọi nỗ lực "giữ lời hứa" ở thời điểm bản lề năm 2026 này không chỉ là giải quyết những bài toán thực tiễn trước mắt mà còn là những viên gạch nền tảng để xây dựng lộ trình hướng tới dấu mốc 2030 và tầm nhìn 2045. Khi niềm tin được bồi đắp qua từng kết quả cụ thể hôm nay sẽ là nguồn lực nội sinh vô hạn, là động lực để dân tộc ta "vươn mình" trong kỷ nguyên mới, thực hiện hóa khát vọng về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng vào đúng dịp kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập nước.

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bình luận không đăng nhập

Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.