VTV.vn - Sáng 12/10, Viện Vật liệu xây dựng khởi động dự án EPD xi măng. Dù có 135 sản phẩm đạt EPD, cả nước mới có 6 doanh nghiệp tham gia, đòi hỏi gấp rút về chuẩn hóa.
Hội thảo khởi động dự án "Hỗ trợ kỹ thuật cho Việt Nam xây dựng chương trình EPD cho sản phẩm xi măng" diễn ra sáng 12/10 tại Hà Nội đã phác họa bức tranh toàn cảnh về thực trạng minh bạch hóa thông tin môi trường của ngành sản xuất vật liệu xây dựng trụ cột. Trong bối cảnh áp lực giảm phát thải khí nhà kính gia tăng, việc đo lường và công bố Tuyên bố sản phẩm môi trường (EPD) được xem là công cụ định lượng cốt lõi giúp xác định tác động môi trường của từng tấn sản phẩm. Tuy nhiên, từ những con số thực tế được đưa ra tại hội thảo, hành trình chuyển đổi xanh của ngành xi măng Việt Nam hiện mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu.
Thực trạng công bố EPD: Số lượng tăng nhưng quy mô doanh nghiệp còn khiêm tốn
Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Xi măng Việt Nam Lương Đức Long thông tin về tình hình sản xuất xi măng. Ảnh: Tiến Hào
Tại hội thảo, ông Lương Đức Long, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Xi măng Việt Nam (VNCA) cho biết, tính đến nay cả nước có 135 sản phẩm xi măng và clinker chính thức công bố EPD. Mặc dù đây là tín hiệu tích cực phản ánh sự chủ động của các đơn vị tiên phong, ông Long đánh giá số lượng doanh nghiệp tham gia làm EPD vẫn còn rất hạn chế so với quy mô toàn ngành.
Cụ thể, toàn bộ 135 sản phẩm đã công bố EPD hiện nay chỉ tập trung ở 6 doanh nghiệp sản xuất. Trong đó, Công ty Cổ phần Xi măng Vicem Hà Tiên dẫn đầu với 51 sản phẩm. Tiếp theo là Công ty Cổ phần Xi măng Lam Thạch với 38 sản phẩm, SCG Cement Construction Materials Việt Nam với 16 sản phẩm, Công ty Cổ phần Xi măng Xuân Thành với 13 sản phẩm, Công ty TNHH Siêu măng INSEE Việt Nam với 12 sản phẩm (bao gồm cả clinker) và Công ty TNHH Xi măng Chinfon với 5 sản phẩm.
Xét theo địa bàn địa lý, sự phân bố các sản phẩm công bố EPD thể hiện mức độ chênh lệch rõ rệt giữa các vùng miền. Khu vực miền Nam hiện chiếm tỷ trọng lớn nhất với 63 sản phẩm công bố EPD, tương đương 46,67% tổng số sản phẩm cả nước. Đứng thứ hai là khu vực miền Bắc với 56 sản phẩm, chiếm tỷ lệ 41,48%. Trong khi đó, khu vực miền Trung ghi nhận số lượng công bố EPD thấp nhất, chỉ có 16 sản phẩm, tương ứng với tỷ lệ 11,85%.
Bức tranh phát thải toàn ngành và điểm nghẽn tập trung ở Clinker
Xi măng Vicem Hà Tiên.
Cung cấp thêm góc nhìn về quy mô công nghiệp, đại diện VNCA cho biết ngành xi măng Việt Nam hiện đang vận hành 63 nhà máy sản xuất đồng bộ có nung luyện clinker, với 89 dây chuyền công nghệ. Tổng công suất thiết kế toàn ngành đạt khoảng 126 triệu tấn xi măng và 113 triệu tấn clinker mỗi năm. Thống kê năm 2025 cho thấy, lượng xi măng tiêu thụ nội địa đạt 75,59 triệu tấn, trong khi khối lượng xuất khẩu đạt 21,77 triệu tấn.
Quy mô sản xuất khổng lồ đi kèm với lượng tiêu thụ năng lượng và phát thải khí nhà kính rất lớn. Phân tích sâu về dữ liệu kiểm kê phát thải, ông Lương Đức Long chỉ ra rằng suất phát thải CO₂ trung bình toàn ngành đối với sản xuất clinker hiện đạt khoảng 0,91 tấn CO₂/tấn sản phẩm. Ngay tại cơ sở có công nghệ tiên tiến nhất, suất phát thải clinker thấp nhất ghi nhận được cũng ở mức 0,87 tấn CO₂/tấn.
Đối với xi măng thương phẩm, suất phát thải CO₂ có sự khác biệt phụ thuộc vào tỷ lệ clinker. Cụ thể, đối với xi măng tiêu thụ trong nước, với giả định hàm lượng clinker khoảng 70%, suất phát thải ước tính đạt 0,65 tấn CO₂/tấn xi măng. Trong khi đó, đối với sản phẩm xi măng xuất khẩu – yêu cầu hàm lượng clinker lên tới 90% – suất phát thải tăng lên mức 0,82 tấn CO₂/tấn.
Đáng chú ý, kết quả nghiên cứu cho thấy công đoạn nung clinker chính là "tâm điểm" phát thải, chiếm tới 95,6% tổng lượng phát thải phát sinh từ quá trình sản xuất xi măng. Công đoạn nghiền xi măng do chủ yếu sử dụng điện năng chỉ chiếm 4,4%. Bóc tách riêng trong sản xuất clinker, phát thải từ quá trình phân hủy nguyên liệu đá vôi chiếm 58,74%; phát thải từ đốt nhiên liệu chiếm 36,79%; và phát thải gián tiếp từ tiêu thụ điện chiếm 4,47%.
Khoảng trống tiêu chuẩn và bài toán nâng cao năng lực chứng nhận
Để ứng phó với bài toán phát thải, nhiều doanh nghiệp xi măng đã chủ động áp dụng các giải pháp kỹ thuật như giảm tiêu hao nhiệt năng trong lò nung, tăng cường sử dụng nhiên liệu thay thế từ rác thải, tiết kiệm điện năng và giảm hàm lượng clinker bằng các phụ gia khoáng.
Tuy nhiên, ông Lương Đức Long khẳng định, việc chỉ cải tiến nội bộ là chưa đủ. EPD chính là công cụ định lượng minh bạch, cung cấp thông tin về tác động môi trường để phục vụ đánh giá, lựa chọn vật liệu trong công trình xanh. Với quy mô sản xuất lớn, nhu cầu xây dựng và công bố EPD cho các dòng sản phẩm xi măng phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu đang trở nên cấp thiết.
Rào cản lớn nhất hiện nay nằm ở sự thiếu hụt hạ tầng quản lý. Việt Nam chưa có hệ thống tiêu chuẩn EPD riêng cho sản phẩm xi măng, đồng thời chưa có tổ chức chứng nhận EPD theo tiêu chuẩn quốc tế tại nội địa. Do đó, việc mở rộng công bố EPD thời gian tới cần đi đôi với hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn quốc gia, nâng cao năng lực chuyên môn và tạo cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia minh bạch hóa thông tin môi trường.
Bình luận (0)