(Ảnh: AP)
Ngày 31/8 năm 2026 được đánh giá là một trong những ngày đặc biệt đối với những người hâm mộ rapper huyền thoại Tupac Shakur vì trong ngày này, kẻ chủ mưu vụ sát hại Tupac năm 1996, sau 3 thập kỷ, đã được tìm ra và tuyên án. Lý do khiến vụ án này kéo dài đến như vậỵ vì những nhân chứng bất hợp tác, các nghi phạm thì đều đã qua đời trong những năm qua.
Nhưng sự thật cuối cùng cũng đã được tìm ra, một số bằng chứng bất lợi nhất chống lại người duy nhất từng bị buộc tội lại đến từ chính lời khai của người đó - Duane "Keffe D" Davis. Một bồi thẩm đoàn tại Las Vegas đã đưa ra phán quyết vào ngày 31/8, kết tội Davis giết người cấp độ một có sử dụng vũ khí gây chết người. Người đàn ông này có thể phải đối mặt với án tù chung thân. Sau chưa đầy ba giờ nghị án, Davis (63 tuổi) bị ra lệnh giam giữ không được bảo lãnh và dự kiến sẽ bị tuyên án vào ngày 13 tháng 10.

Rapper Tupac đã bị sát hại vào năm 1996 và phải 30 năm sau, kẻ chủ mưu vụ sát hại mới được gọi tên. (Ảnh chụp màn hình cuộc phỏng vấn Tupac năm 1995).
Trong những năm qua, Davis đã dành nhiều năm để kể về vụ nổ súng năm 1996 với nhiều người - bao gồm các điều tra viên, nhà làm phim và người phỏng vấn - cũng như thông qua cuốn hồi ký "Compton Street Legend" của chính ông ta. Các công tố viên đã sử dụng những lời kể này để xây dựng hồ sơ buộc tội giết người đối với Davis, trong khi luật sư của ông ta lập luận rằng Davis chỉ thêu dệt câu chuyện để kiếm tiền và tìm kiếm sự nổi tiếng và bán sách mà thôi.
Phán quyết này cũng đánh dấu lần đầu tiên có người bị kết án trong vụ sát hại biểu tượng nhạc rap Tupac Shakur, gần 30 năm sau khi siêu sao nhạc rap 25 tuổi này bị bắn chết khi đang ngồi trong xe hơi.
Vậy các bằng chứng dẫn đến việc kết án Davis và những diễn biến tiếp theo đó là gì?
Tại sao Davis bị kết án về vụ sát hại Tupac Shakur?
Lập luận của bên công tố tập trung vào chính những lời khai của Davis.
Trong nhiều năm, Davis liên tục thừa nhận mình có mặt trên chiếc Cadillac màu trắng áp sát xe của Shakur và Marion "Suge" Knight (đồng sáng lập hãng đĩa Death Row Records) vào ngày 7 tháng 9 năm 1996. Trong các cuộc phỏng vấn với cơ quan thực thi pháp luật và các chia sẻ công khai sau đó, Davis mô tả việc mình đã lấy khẩu súng và chuyển nó ra ghế sau trước khi những phát súng vang lên.
Các công tố viên không cáo buộc Davis là người trực tiếp bóp cò. Thay vào đó, họ lập luận rằng ông ta là người tổ chức nhóm, cung cấp súng và hỗ trợ thực hiện cuộc tấn công trả đũa sau khi nhóm của Shakur và Knight hành hung cháu trai của Davis là Orlando "Baby Lane" Anderson tại khách sạn MGM Grand vào đầu buổi tối hôm đó. Theo luật pháp bang Nevada, bất kỳ ai hỗ trợ hoặc giúp đỡ người khác thực hiện hành vi giết người đều có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Trong phần tranh luận kết thúc vụ án, Phó Biện lý Quận Binu Palal thừa nhận rằng các chi tiết trong lời khai của Davis đã thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên, ông lập luận rằng nội dung cốt lõi của câu chuyện vẫn không thay đổi.
"Những sự thật cốt lõi vẫn còn đó. Những tình tiết quan trọng vẫn không thay đổi," ông Palal nói với bồi thẩm đoàn.
Bồi thẩm đoàn đã đồng tình với quan điểm này và tuyên Davis phạm tội giết người cấp độ một có sử dụng vũ khí gây chết người, sau chưa đầy ba giờ nghị án.
Davis đã nói gì về vụ nổ súng?
Davis bắt đầu cung cấp những chi tiết quan trọng nhất trong một cuộc phỏng vấn với cơ quan thực thi pháp luật vào năm 2008, khi giới chức đang điều tra vụ sát hại The Notorious B.I.G. - đối thủ trong giới nhạc rap của Tupac Shakur - vào năm 1997. Davis kể rằng ông ngồi ở ghế phụ phía trước của chiếc Cadillac cùng ba người đàn ông khác, trong đó có cháu trai của ông ta. Davis mô tả cảnh nhìn thấy Tupac Shakur và Knight, sau đó quay đầu xe và lái áp sát chiếc BMW của họ.
"Nếu họ ở phía bên tôi, tôi đã nổ súng rồi" - Davis nói với các điều tra viên và cho biết ông đã chuyền khẩu súng ra ghế sau.
Sau này, Davis đã công khai nói về vụ giết người và mô tả lại sự việc trong cuốn hồi ký xuất bản năm 2019. Các công tố viên đã cho bồi thẩm đoàn xem một cuộc phỏng vấn, trong đó Davis quảng bá cuốn sách như một cách để người đọc biết được "sự thật đích thực".
Lời khai của Davis có sự khác biệt ở một số chi tiết, bao gồm cả việc ai là người trực tiếp nổ súng. Tuy nhiên, các công tố viên nhấn mạnh rằng ông ta liên tục khẳng định mình có mặt trong chiếc Cadillac và mô tả vai trò của bản thân trong việc cung cấp vũ khí. Những tuyên bố công khai đó đã đóng vai trò then chốt dẫn đến việc Davis phải ra toà sau đó.
Tại sao phải mất gần 30 năm mới có thể khởi tố vụ án?
Cảnh sát từ lâu đã nghi ngờ rằng vụ sát hại Tupac Shakur là hành động trả đũa cho vụ ẩu đả tại khách sạn MGM Grand, nhưng các điều tra viên gặp khó khăn trong việc xây dựng hồ sơ để khởi tố. Các nhân chứng tỏ ra miễn cưỡng hợp tác. Knight - người ngồi cạnh Tupac Shakur khi tiếng súng vang lên - đã không cung cấp cho điều tra viên lời khai nào dẫn đến việc khởi tố. Những người khác được cho là đã ngồi trong chiếc Cadillac vào năm 1996 cũng lần lượt qua đời trong những năm sau đó.
Davis đã trao đổi với các điều tra viên theo thỏa thuận không chính thức (không dùng làm bằng chứng tại tòa) với cơ quan liên bang vào năm 2008, và một lần nữa với cảnh sát Las Vegas vào năm 2009. Những tình tiết đặc biệt xoay quanh các cuộc phỏng vấn này đã gây khó khăn cho việc xác định liệu những lời khai đó có thể được sử dụng để buộc tội ông ta hay không. Tuy nhiên, về sau Davis bắt đầu công khai bàn luận về vụ giết người, bao gồm cả trong các bộ phim tài liệu, các cuộc phỏng vấn và cuốn hồi ký của mình. Các công tố viên lập luận rằng việc công khai thông tin như vậy cho phép họ sử dụng những lời khai mà ông ta đã đưa ra từ nhiều năm trước.
Một cuộc điều tra mới của cảnh sát Las Vegas cuối cùng đã dẫn đến việc bắt giữ Davis vào năm 2023.
Phía luật sư bào chữa cho Davis đã lập luận như thế nào?
Luật sư bào chữa của Daví, Michael Sanft, đã đề nghị bồi thẩm đoàn bác bỏ chính những lời khai mà các công tố viên coi là bằng chứng đanh thép nhất của họ. Ông Sanft lập luận rằng Davis đã phóng đại hoặc bịa đặt các chi tiết về sự liên quan của mình nhằm mục đích kiếm tiền và tìm kiếm sự nổi tiếng. Luật sư này mô tả những lời khai của thân chủ mình chỉ là sự khoe khoang và hư cấu chứ không phải là lời thú tội.
Luật sư Sanft cũng lập luận rằng các điều tra viên đã không thể chứng minh một cách độc lập việc Davis thực sự có mặt tại Las Vegas vào đêm Tupac Shakur bị bắn. Luật sư này chỉ ra sự thiếu vắng các hình ảnh từ camera giám sát, hồ sơ điện thoại cũng như các bằng chứng vật chất hay tài liệu khác xác nhận Davis đã ngồi trong chiếc xe Cadillac đó.
Luật sư Sanft nói với bồi thẩm đoàn trong khi hướng tay về phía Davis lúc đang trình bày lập luận cuối: "Họ không có bất kỳ bằng chứng nào trong vụ án này cho thấy người đàn ông đó đã ở Las Vegas vào ngày 7 tháng 9 năm 1996".
Sanft cũng đặt nghi vấn về tính xác thực của cuộc điều tra kéo dài hàng thập kỷ này. Ông lập luận rằng việc thất lạc hồ sơ, các phương thức làm việc đáng ngờ của cảnh sát và sự tham gia của nhiều cơ quan thực thi pháp luật khác nhau đã khiến vụ án của bên công tố trở nên thiếu tin cậy.
Các công tố viên phản bác rằng những lời thừa nhận của Davis không nhất thiết cần phải có bằng chứng độc lập xác thực nếu bồi thẩm đoàn tin vào chúng. Họ cũng viện dẫn các bằng chứng gián tiếp mà họ cho là củng cố cho lời khai của bị cáo, bao gồm vụ hành hung tại khách sạn MGM Grand, mối thù giữa hai băng nhóm và lời khai về các sự kiện diễn ra trước khi vụ nổ súng xảy ra.
Điều gì tiêp theo sẽ xảy ra với Davis?
Ngay sau khi phán quyết được đưa ra vào ngày 31/8 (giờ Mỹ), Thẩm phán Carli Kierny đã ra lệnh giam giữ Davis mà không cho phép bảo lãnh trong thời gian chờ tuyên án vào ngày 13 tháng 10. Davis giơ tay và nói: "Xin lỗi" trước khi đề nghị được nhận lại đồ trang sức, điện thoại và các vật dụng cá nhân khác.
"Và tôi muốn kháng cáo vụ việc này" - Davis nói với thẩm phán.
Thẩm phán Kierny giải thích rằng việc kháng cáo sẽ được thực hiện sau khi tuyên án.
Sau khi có phán quyết, các công tố viên cũng tự nguyện hủy bỏ đề nghị áp dụng mức án tù bổ sung liên quan đến hoạt động băng nhóm, do những vấn đề hậu cần liên quan đến một nhân chứng. Động thái này đã loại bỏ sự cần thiết phải để bồi thẩm đoàn xem xét thêm một giai đoạn nữa của vụ án.



Bình luận (0)