Thực trạng 40% hợp đồng PPP và nút thắt tín dụng ngân hàng
Theo báo cáo của Bộ Xây dựng, tính từ năm 2021 đến nay, phương thức PPP loại hợp đồng BOT đã huy động được 444.571 tỷ đồng cho 17 dự án (trong đó vốn tư nhân đạt 231.633 tỷ đồng). Tuy nhiên, việc thu hút vốn tư nhân cho hạ tầng vẫn đối mặt không ít trở lực.

Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Phó Chánh Văn phòng PPP, Cục Quản lý đầu thầu, Bộ Tài chính. Ảnh: Bộ Xây dựng
Cung cấp bức tranh toàn cảnh về tình hình thực thi pháp lý, bà Nguyễn Thị Thu Hà - Phó Chánh Văn phòng PPP, Cục Quản lý đấu thầu (Bộ Tài chính) cho biết: "Từ khi Luật PPP có hiệu lực đến nay, có 30 dự án PPP được quyết định chủ trương đầu tư, trong đó 24 dự án BOT với tổng vốn khoảng 390.000 tỷ đồng. Mỗi đồng vốn Nhà nước tham gia đã huy động được gần 3 đồng vốn ngoài ngân sách. Tuy nhiên, tỷ lệ dự án ký kết được hợp đồng còn thấp, mới đạt 12/30 dự án (khoảng 40%). Nguồn vốn vay thực hiện dự án chủ yếu từ các ngân hàng thương mại với thời hạn ngắn, lãi suất cao, chưa tương thích với thời gian hoàn vốn kéo dài 15–20 năm của các dự án giao thông."
Từ góc độ định chế tài chính cấp vốn, ông Trần Hoài Nam - Phó Giám đốc Khối Khách hàng doanh nghiệp VietinBank cho biết, tính đến ngày 31/8/2026, dư nợ tài trợ dự án PPP tại VietinBank đạt 36.215 tỷ đồng trên 26 dự án (như Hầm Đèo Cả 8.700 tỷ đồng, BOT Bắc Giang - Lạng Sơn 7.990 tỷ đồng, BOT Pháp Vân - Cầu Giẽ 1.100 tỷ đồng...). Mới đây nhất, VietinBank cùng 5 ngân hàng khác đã cấp giới hạn tín dụng 5.400 tỷ đồng cho dự án cao tốc TP.HCM - Trung Lương - Mỹ Thuận.
Phân tích áp lực cấp vốn của hệ thống ngân hàng, ông Trần Hoài Nam chia sẻ: "Việc một ngân hàng đơn lẻ cung cấp phần lớn vốn vay cho một dự án quy mô lớn sẽ tạo áp lực đáng kể về giới hạn cấp tín dụng, thanh khoản và mức độ tập trung rủi ro. Ngân hàng thương mại không chỉ cung cấp vốn mà còn quản trị dòng tiền theo toàn bộ vòng đời dự án. Chúng tôi kiến nghị các cơ quan Nhà nước cần hoàn thiện cơ chế chia sẻ rủi ro, đẩy nhanh việc xác định doanh thu hụt, kiểm toán và bố trí nguồn ngân sách bù đắp kịp thời nhằm gia tăng niềm tin cho các tổ chức tín dụng."
Khơi thông kênh trái phiếu và thu hút các quỹ đầu tư dài hạn

Ông Nguyễn Việt Long - Phó Tổng Giám đốc Công ty tư vấn quốc tế Ernst & Young (EY) Ảnh: Bộ Xây dựng
Trước thực tế dư địa tín dụng ngân hàng chịu áp lực lớn về trần an toàn, việc đa dạng hóa kênh huy động vốn trở thành yêu cầu cấp thiết. Ông Nguyễn Việt Long - Phó Tổng Giám đốc Công ty tư vấn quốc tế Ernst & Young (EY) đưa ra góc nhìn so sánh quốc tế: "Thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam hiện mới chiếm khoảng 10–11% GDP, trong khi tỷ lệ này tại Hàn Quốc là 80% và Malaysia là 45%. Dư địa phát triển thị trường trái phiếu dự án là rất lớn. Theo thông lệ quốc tế, việc phát hành trái phiếu dự án có thể giúp bổ sung khoảng 10–15% tổng dư nợ, giảm đáng kể áp lực cho hệ thống tín dụng."
Tuy nhiên, đại diện EY cũng lưu ý về thời điểm áp dụng trái phiếu dự án: "Trái phiếu không thay thế hoàn toàn tín dụng ngân hàng. Ở giai đoạn đầu xây dựng - nơi rủi ro cao và chưa có dòng tiền - vốn tín dụng ngân hàng vẫn giữ vai trò nòng cốt. Khi dự án đã hoàn thành, đi vào vận hành và có doanh thu thực tế ổn định, rủi ro xây dựng bị triệt tiêu, lúc này việc phát hành trái phiếu dự án hoặc tái cấu trúc vốn thông qua các quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm sẽ là hướng đi vô cùng hiệu quả."
Cấu trúc dự án linh hoạt "PPP++" và bài toán chia sẻ rủi ro thực địa

Cao tốc Cam Lâm - Vĩnh Hảo. Ảnh: Bộ Xây dựng
Đóng góp tiếng nói từ thực tiễn thi công và quản trị dự án, ông Hồ Minh Hoàng - Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Đèo Cả cho rằng không nên hiểu đơn giản PPP là giao dự án cho doanh nghiệp tự xoay xở vốn. Ông đề xuất mô hình "PPP++": "Muốn PPP thành công, Nhà nước và doanh nghiệp phải cùng thiết kế cấu trúc dự án ngay từ đầu. Không thể áp dụng một công thức tài chính chung cho mọi công trình. Với mô hình PPP++, ngoài Nhà nước, nhà đầu tư và ngân hàng, cần đưa cả nhà thầu EPC, nhà cung cấp vật liệu, thiết bị cùng tham gia vào chuỗi giá trị dự án để chia sẻ rủi ro. Cùng với đó, cần công khai dữ liệu lưu lượng thực tế để phân loại: đoạn lưu lượng tốt thì tư nhân tự làm không cần vốn ngân sách; đoạn lưu lượng thấp thì Nhà nước tham gia hỗ trợ."
Đặc biệt, ông Hồ Minh Hoàng nhấn mạnh bài học về tính liên tục của phương án tài chính: "Không thể giải quyết một dự án mới bằng cách tạo ra khó khăn cho một dự án PPP cũ. Đối với việc mở rộng 966 km cao tốc Bắc - Nam, nên nghiên cứu vận dụng Nghị định 349/2026/NĐ-CP cho phép chỉ định thầu/lựa chọn nhà thầu hiện hữu có năng lực để tránh chia cắt trách nhiệm bảo hành, bảo trì và vận hành giữa công trình cũ và phần mở rộng mới."
Ở góc độ địa phương trực tiếp làm cơ quan có thẩm quyền, ông Lê Huyền - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòaphản ánh những vướng mắc thực tế: "Bài toán lớn nhất của địa phương khi làm dự án PPP nằm ở năng lực tài chính nhà đầu tư, công tác giải phóng mặt bằng và cơ chế chia sẻ rủi ro. Cơ chế chia sẻ hụt doanh thu theo Luật PPP hiện hành còn vướng thủ tục rườm rà qua nhiều tầng kiểm toán, tạo độ trễ thanh toán. Địa phương lại thiếu nguồn vốn dự phòng sẵn có khiến nhà đầu tư đối mặt áp lực tài chính ngắn hạn. Chúng tôi kiến nghị Trung ương sớm thành lập các quỹ tài chính dự phòng linh hoạt và phân cấp mạnh hơn cho địa phương."
Minh chứng cho tinh thần chủ động của tư nhân, ông Phạm Văn Binh - Phó Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Đức Long Gia Lai cho biết doanh nghiệp đang đề xuất lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi 2 tuyến cao tốc Pleiku - Buôn Ma Thuột - Gia Nghĩa (260 km) và Pleiku - Lệ Thanh (55 km): "Chúng tôi đang nghiên cứu kịch bản vốn Nhà nước tham gia khoảng 70% và nhà đầu tư thu xếp 30%. Doanh nghiệp sẽ tự bỏ chi phí kiểm chứng độc lập lưu lượng, địa chất, đền bù giải phóng mặt bằng và làm việc với ngân hàng để chứng minh năng lực thu xếp vốn, quyết tâm khởi công dự án trước năm 2030."
Bình luận (0)