Ngày 21/9, thị trường chứng khoán Việt Nam hoàn tất lộ trình nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp theo chuẩn FTSE Russell. Thông tin được chia sẻ từ Tổng giám đốc FTSE Russell trong chuyến thăm mới đây tại Việt Nam cho thấy, dự kiến sẽ có 15 tỷ USD vốn ngoại, bao gồm cả dòng vốn thụ động và cả chủ động chảy vào thị trường chứng khoán.
Nhưng nhìn xa hơn, con số đó mới chỉ là một phần khiêm tốn của bài toán vốn. Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đặt mục tiêu trong giai đoạn 2026-2030 thu hút khoảng 200-300 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài đăng ký, trong đó vốn thực hiện khoảng 150-200 tỷ USD.

Trong khi đó, cấu trúc vốn của nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào ngân hàng. Tín dụng đã tương đương khoảng 145% GDP vào năm ngoái; trong khi vốn hóa thị trường cổ phiếu tương đương khoảng 83% GDP, còn quy mô trái phiếu niêm yết khoảng 22% GDP. Vấn đề là vốn ngân hàng phần lớn được huy động với kỳ hạn ngắn hơn, trong khi nhiều nhu cầu đầu tư, đặc biệt là hạ tầng, lại kéo dài hàng chục năm. Vì thế, bài toán ngày càng rõ: làm sao tạo thêm những nguồn vốn dài hạn, thay vì tiếp tục đặt quá nhiều sức ép lên hệ thống ngân hàng.
Một bên là những dự án hạ tầng cần dòng tiền hàng chục năm. Một bên là thị trường tài chính vẫn thiếu những nguồn vốn và công cụ đầu tư có kỳ hạn tương ứng. Ông Jens Lottner, Tổng Giám đốc Techcombank nhận định: "Có ba việc cần làm: Thứ nhất là phát triển mạnh hơn thị trường vốn, cả thị trường nợ và thị trường cổ phiếu. Thứ hai là thu hút thêm các nhà đầu tư tổ chức, nhà đầu tư nước ngoài, các quỹ hưu trí và bảo hiểm - những nguồn có thể cung cấp vốn dài hạn mà ngân hàng không phải lúc nào cũng đáp ứng được. Và cuối cùng, thị trường phải vận hành hiệu quả hơn, với số hóa, minh bạch và hiệu quả cao hơn. Khi đó, các nhà đầu tư dài hạn có thể chia sẻ bớt áp lực với hệ thống ngân hàng và tài trợ cho tăng trưởng dài hạn."
"Việt Nam cần nhìn dài hạn hơn, không chỉ hàng tỷ USD từ câu chuyện nâng hạng thị trường chứng khoán mà là hàng nghìn tỷ USD. Cải cách hệ thống hưu trí sẽ giúp hình thành một ngành quản lý quỹ trong nước mạnh hơn. Chúng ta cần điều đó, bởi nhà đầu tư nước ngoài có thể đến rồi đi, còn các quỹ trong nước sẽ ở lại và tập trung vào Việt Nam. Phát triển thị trường trái phiếu hay chứng chỉ tiền gửi cũng rất quan trọng để tạo ra quy mô và loại vốn cần thiết cho mục tiêu tăng trưởng hai con số của nền kinh tế", ông Thomas Nguyen, Giám đốc Thị trường nước ngoài, Công ty Cổ phần Chứng khoán SSI nêu lên quan điểm của mình.

Một ví dụ là ngành bảo hiểm. Theo Techcom Life, dự phòng kỹ thuật của ngành bảo hiểm nhân thọ hiện lên tới gần 28 tỷ USD, với các nghĩa vụ có thể kéo dài tới 30 năm nhưng nguồn tiền dài hạn này lại thiếu những công cụ đầu tư có kỳ hạn tương ứng. Trong khi đó, tỷ lệ thâm nhập bảo hiểm tại Việt Nam hiện vẫn dưới 2%, cho thấy dư địa để hình thành thêm nguồn vốn dài hạn còn lớn.
Bà Trịnh Quỳnh Giao, Tổng Giám đốc CTCP Quản lý quỹ PVI (PVI AM), cho biết: "Đặc thù của các công ty bảo hiểm là có một nguồn vốn rất dài hạn. Và nguồn vốn đấy nếu được điều chỉnh tốt thì sẽ là một kênh dẫn vốn rất tốt cho các dự án lớn của nền kinh tế mang tính chất dài hạn. Hiện nay, tổng tài sản của các công ty bảo hiểm trên thị trường chiếm khoảng 7,5% GDP. Để mà có thể so với các nước khác như Trung Quốc hay Singapore đều ở mức khoảng 30-70% thì thực sự chúng ta còn có rất nhiều việc cần phải làm."
Nhưng để thu hút nguồn tiền từ bảo hiểm, quỹ hưu trí hay các nhà đầu tư tổ chức, kỳ hạn dài mới chỉ là điều kiện đầu tiên. Tài sản còn phải đáp ứng những yêu cầu về lợi suất, tỷ giá, tiêu chuẩn thẩm định và quản trị rủi ro. Đổi lại, khi niềm tin được thiết lập, đây là những dòng vốn ổn định lâu dài. Theo ông Martin Lau, Giám đốc phụ trách Hong Kong và các thị trường mới nổi, Principal Financial Group: "Khi nhà đầu tư tổ chức đã cảm thấy đủ tin tưởng, dòng vốn thường được triển khai rất dài hạn và ổn định. Họ có thể bổ sung vốn hàng năm và nắm giữ khoản đầu tư trong 5 hoặc 10 năm."
Bình luận (0)