Thiếu giáo viên: Áp lực không chỉ nằm ở số lượng
Khi chương trình giáo dục mầm non hướng tới phát triển toàn diện trẻ em, tăng cường ứng dụng công nghệ số và quản trị dựa trên dữ liệu, các cơ sở đào tạo sư phạm đứng trước yêu cầu đổi mới. Giáo dục mầm non đang đứng trước áp lực kép: mở rộng cơ hội đến trường cho trẻ nhỏ, đồng thời bảo đảm chất lượng chăm sóc và giáo dục. Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT), cả nước hiện thiếu hơn 15.200 giáo viên mầm non và dự kiến cần bổ sung khoảng 68.779 người trong giai đoạn 2026–2030 để thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục cho trẻ từ 3 đến 5 tuổi.

Cô Hoàng Thị Thúy dạy các em lớp Mẫu giáo nhỡ Trường mầm non Phúc Diễn. Nguồn ảnh: NVCC
Quy mô nhu cầu cho thấy các trường đại học, cao đẳng đào tạo ngành Giáo dục Mầm non sẽ giữ vai trò quan trọng trong việc cung ứng nguồn nhân lực. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào con số thiếu hụt để tăng chỉ tiêu tuyển sinh, bài toán nhân lực có thể chưa được giải quyết tận gốc.
Năng lực của giáo viên mầm non không chỉ thể hiện ở kiến thức chuyên môn hay khả năng tổ chức hoạt động trên lớp. Công việc còn đòi hỏi sự am hiểu tâm lý trẻ, khả năng quan sát và nhận diện nhu cầu phát triển, kỹ năng xử lý tình huống, phối hợp với phụ huynh và bảo đảm an toàn trong quá trình chăm sóc. Những yêu cầu này càng trở nên quan trọng khi chương trình giáo dục chuyển hướng mạnh hơn sang phát triển toàn diện, coi trọng sự khác biệt giữa các cá nhân và quá trình học tập thông qua trải nghiệm.
Bên cạnh đó, nhu cầu nhân lực không phân bố đồng đều giữa các địa phương. Việc dự báo và phân bổ chỉ tiêu đào tạo cần dựa trên tình hình thiếu hụt cụ thể, quy mô trẻ trong độ tuổi, khả năng tuyển dụng và điều kiện làm việc tại từng khu vực. Một địa phương có nhu cầu lớn nhưng khó thu hút giáo viên sẽ cần giải pháp khác với nơi có đủ nguồn nhân lực nhưng thiếu vị trí việc làm phù hợp.
Chương trình mới, cách đào tạo cần thay đổi
Không chỉ là câu chuyện điều chỉnh nội dung dạy học tại các cơ sở giáo dục sư phạm, khi cách tổ chức hoạt động giáo dục thay đổi, chương trình đào tạo giáo viên cũng cần được xem xét để bảo đảm sinh viên được chuẩn bị đúng với yêu cầu nghề nghiệp thực tế.
Trước hết, các cơ sở đào tạo cần tăng cường sự gắn kết giữa lý thuyết và thực hành. Năng lực của giáo viên mầm non không chỉ thể hiện ở việc nắm kiến thức về tâm lý, giáo dục học hay các phương pháp tổ chức hoạt động, mà còn ở khả năng quan sát trẻ, nhận diện nhu cầu phát triển khác nhau, xây dựng môi trường học tập an toàn và điều chỉnh hoạt động theo phản ứng của trẻ.
Nếu chương trình mới nhấn mạnh sự phát triển toàn diện, giáo viên tương lai cần được thực hành thiết kế những hoạt động kết hợp giữa vận động, ngôn ngữ, cảm xúc, nhận thức, nghệ thuật và kỹ năng xã hội, thay vì chỉ tập trung vào việc truyền đạt kiến thức hoặc tổ chức hoạt động theo một khuôn mẫu cố định. Sinh viên cũng cần được rèn luyện khả năng theo dõi tiến bộ của trẻ và sử dụng kết quả quan sát để điều chỉnh kế hoạch giáo dục.
Điều này đòi hỏi các trường đại học, cao đẳng phải phối hợp chặt chẽ hơn với cơ sở giáo dục mầm non. Các đợt thực tập nên được thiết kế như quá trình rèn luyện nghề nghiệp có hướng dẫn, trong đó sinh viên được quan sát lớp học, tham gia xây dựng kế hoạch, tổ chức hoạt động và nhận phản hồi từ giáo viên hướng dẫn. Những tình huống thực tế như trẻ có nhu cầu hỗ trợ đặc biệt, sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa, hay việc phối hợp với phụ huynh cũng cần được đưa vào quá trình đào tạo.
Giáo viên mầm non trước yêu cầu của thời đại số
Một thay đổi đáng chú ý khác là yêu cầu tăng cường ứng dụng công nghệ số. Với giáo viên mầm non, năng lực số không nên được hiểu đơn giản là biết trình chiếu bài giảng, sử dụng ứng dụng thiết kế hay nhập thông tin lên hệ thống quản lý.
Trong công việc hằng ngày, giáo viên có thể cần sử dụng công cụ số để xây dựng kế hoạch hoạt động, lưu trữ hồ sơ phát triển của trẻ, trao đổi thông tin với phụ huynh và phối hợp với đồng nghiệp. Khi được sử dụng đúng cách, công nghệ có thể giảm thao tác lặp lại, hỗ trợ tổng hợp thông tin và giúp giáo viên có thêm thời gian dành cho trẻ.
Cô Hoàng Thị Thúy, giáo viên mầm non tại Hà Nội chia sẻ: "Hiện nay, có nhiều ứng dụng và công nghệ mới nên cần mất nhiều thời gian để tìm hiểu và học cách sử dụng. Xong cũng cần lựa chọn công cụ ứng dụng cho phù hợp, vì có những công cụ mất phí sử dụng và khó sử dụng. Và khi sử dụng các công cụ AI cần phải có kỹ năng và chỉnh sửa nhiều lần mới tạo ra đc sản phẩm mình mong muốn"
Từ yêu cầu đó, các trường sư phạm cần cân nhắc tích hợp năng lực số vào nhiều học phần thay vì tách thành một nội dung mang tính kỹ thuật. Sinh viên có thể được thực hành thiết kế học liệu số phù hợp với lứa tuổi, lựa chọn công cụ hỗ trợ quan sát và ghi nhận sự phát triển của trẻ, hoặc xây dựng phương án phối hợp với gia đình qua các nền tảng trực tuyến.
Theo PSG.TS Trần Đình Tuấn, Nguyên Bí thư Đảng ủy, Nguyên Hiệu trưởng trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương chia sẻ về 5 hướng nhà trường cần chuẩn bị:
Thứ nhất, tích hợp chương trình đào tạo theo Khung năng lực số (Thông tư 02/2025/TT-BGDĐT, Thông tư 2957/BGDĐT về việc triển khai khung năng lực số tại các cơ sở đào tạo). Mỗi học phần cần có mục tiêu và đầu ra năng lực số cụ thể, ưu tiên dạy công cụ thông qua sản phẩm nghề nghiệp, không dạy phần mềm rời rạc.
Thứ hai, bồi dưỡng giảng viên thành thạo thiết kế học liệu số và tổ chức lớp trên hệ thống quản lý học tập, đồng thời làm mẫu việc dùng AI minh bạch, đồng thời có tài liệu hướng dẫn triển khai thống nhất cho giảng viên.
Thứ ba, chuẩn bị môi trường số tích hợp, phần mềm đào tạo, hệ thống quản lý đào tạo, học liệu được tích hợp với nhau, sinh viên có nguồn tài liệu học tập, khuyến khích tự học có đánh giá.
Thứ tư, những học phần về công nghệ số nên gắn với chuyên môn mầm non, thực hiện các dự án học tập xuyên suốt, sinh viên được thực tập ở môi trường phù hợp với ngành/chuyên ngành được đào tạo.
Thứ năm, hệ thống đánh giá năng lực số phù hợp với sinh viên ngành giáo dục Mầm non, sinh viên tự đánh giá năng lực số của mình và từ đó có sự điều chỉnh, học tập, đạt đến đầu ra phù hợp với yêu cầu của khung năng lực số dành cho cán bộ quản lý và giảng viên tại Thông tư 18/2026/BGDĐT.

PGS.TS Trần Đình Tuấn, Nguyên Bí thư Đảng ủy, Nguyên Hiệu trưởng trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương. Nguồn ảnh: NVCC
Tuy nhiên, giáo dục mầm non có những đặc thù không thể bỏ qua. Trẻ nhỏ cần được vận động, vui chơi, giao tiếp trực tiếp và khám phá môi trường bằng nhiều giác quan. Vì vậy, ứng dụng công nghệ không đồng nghĩa với tăng thời gian trẻ tiếp xúc màn hình. Công nghệ cần hỗ trợ giáo viên thiết kế và tổ chức hoạt động, chứ không thay thế tương tác giữa giáo viên với trẻ.
Đào tạo kỹ năng số cũng cần đi cùng nhận thức về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Hình ảnh, video, thông tin sức khỏe và hồ sơ phát triển của trẻ đều là những dữ liệu cần được xử lý thận trọng. Sinh viên cần biết khi nào được phép thu thập, lưu trữ, chia sẻ thông tin; cách bảo vệ tài khoản và dữ liệu; cũng như trách nhiệm khi sử dụng công cụ trí tuệ nhân tạo để tạo học liệu hoặc hỗ trợ công việc chuyên môn.
Đào tạo theo nhu cầu thực tế, không chỉ theo chỉ tiêu
Cũng theo PGS.TS. Trần Đình Tuấn, có 5 tiêu chí để đánh giá chất lượng đào tạo và phát triển kỹ năng cho giáo viên trong giai đoạn mới:
Tiêu chí ứng dụng công nghệ trong chuẩn nghề nghiệp. Đối chiếu với tiêu chí ứng dụng công nghệ thông tin trong chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non (Thông tư 26/2018/TT-BGDĐT) và Khung năng lực số (Thông tư 02/2025/TT-BGDĐT) và đáp ứng khung năng lực số dành cho CBQL và GV tại thông tư 18/2026/TT-BGDĐT)
An toàn số và bảo vệ trẻ. Biết bảo vệ hình ảnh, thông tin cá nhân của trẻ và phụ huynh, tôn trọng bản quyền học liệu. Khi dùng AI, phải kiểm chứng nội dung về độ chính xác, sự phù hợp lứa tuổi và văn hóa Việt Nam.
Năng lực thực hiện qua sản phẩm học liệu số. Chất lượng học liệu số, kế hoạch bài dạy, video, giáo án, bài giảng E-Learning, được chấm bằng rubric có tiêu chí sư phạm, kỹ thuật và đạo đức. Không đánh giá chủ yếu bằng bài kiểm tra lý thuyết.
Chất lượng quá trình đào tạo có tích hợp số. Mức độ tham gia và hoàn thành trên hệ thống quản lý học tập, chất lượng phản hồi của giảng viên, mức độ cập nhật của học liệu và chương trình, năng lực số của đội ngũ giảng viên.
Lắng nghe ý kiến các bên liên quan. Mức độ hài lòng của người học; đánh giá của trường mầm non, cán bộ quản lý và phụ huynh về giáo viên mới tốt nghiệp; tỉ lệ có việc làm đúng ngành.
Khả năng tự học và phát triển nghề nghiệp liên tục. Năng lực tự học, tự bồi dưỡng; tham gia cộng đồng chuyên môn; sử dụng dữ liệu để cải tiến việc dạy; ứng dụng công nghệ an toàn, có trách nhiệm trong công việc hằng ngày
Mục tiêu cuối cùng không chỉ là có đủ giáo viên để đáp ứng nhu cầu về số lượng, mà là bảo đảm mỗi trẻ được tiếp cận một môi trường giáo dục an toàn, có chất lượng và phù hợp với nhu cầu phát triển. Khi đó, đổi mới đào tạo sư phạm mới thực sự trở thành một phần của lời giải cho bài toán phổ cập giáo dục mầm non.
Bình luận (0)