Kỷ nguyên độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội mở đầu từ năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập. Tiếp đó, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2/9/1945, là bước ngoặt vĩ đại, đưa Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.
81 năm sau mùa Thu độc lập, Quốc khánh năm nay diễn ra trong thời điểm đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, mở đầu từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Tiếp nối kỷ nguyên độc lập, kỷ nguyên thống nhất và kỷ nguyên đổi mới, Việt Nam hướng tới một đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Từ một đất nước bị chiến tranh tàn phá, bao vây, cô lập, sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình cao; cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế không ngừng được nâng lên; đời sống Nhân dân ngày càng được cải thiện.
Tuy nhiên, những thành tựu đạt được không tự bảo đảm cho thành công trong tương lai. Những động lực từng tạo tăng trưởng cao đang dần thu hẹp dư địa; những phương thức quản lý từng phù hợp không còn đáp ứng yêu cầu phát triển.
Bởi vậy, đất nước đang đứng trước một bước chuyển có ý nghĩa chiến lược: đổi mới mô hình phát triển, với tầm nhìn 100 năm.
Từ "độc lập" đến "năng lực tự cường"
Trước hết là hành trình 81 năm phát huy giá trị của độc lập, xây dựng tiềm lực đất nước, từng bước hình thành năng lực tự chủ, tự cường trong kỷ nguyên phát triển mới.
Trong kỷ nguyên độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội, mục tiêu sống còn của Việt Nam là phải xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến, trở thành một quốc gia độc lập và xây dựng chế độ xã hội mới. Sau Cách mạng Tháng Tám, ngân sách quốc gia gần như bằng 0, hơn 90% dân số là mù chữ.
Trong kỷ nguyên thống nhất đất nước, đổi mới, phát triển, mục tiêu hàng đầu của Việt Nam là phải chiến thắng đói nghèo, lạc hậu, thoát ra khỏi tình trạng một nước nghèo, kém phát triển, nâng cao đời sống của Nhân dân, xác lập vị thế quốc tế xứng đáng.
Chính những thành tựu lịch sử đạt được qua hai kỷ nguyên đã tạo tiền đề, nền tảng vững chắc để Việt Nam bước vào kỷ nguyên thứ ba: kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, khởi đầu từ Đại hội lần thứ XIV của Đảng.
Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, kém phát triển, đạt những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; tạo dựng cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao.
Nếu khi bắt đầu công cuộc đổi mới, thu nhập bình quân đầu người chưa đầy 100 USD, thì đến năm ngoái đã vượt 5.000 USD.
Ông Phạm Quang Vinh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, cho biết khi tiến hành đổi mới cho đến nay, Việt Nam đạt được những thành tựu rất lớn. Thương mại với thế giới đạt 930 tỷ USD, GDP hơn 500 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người trên 5.000 USD. Đây là kết quả của quá trình chuyển đổi mô hình, tạo ra sức bật mới cho Việt Nam. Tỷ lệ nghèo còn trên 2%. Việt Nam hội nhập với thế giới ở mức rất lớn, đứng trong nhóm 30-32 nền kinh tế có quy mô lớn và trong nhóm 20 quốc gia có độ mở thương mại cao.
Tuy nhiên, để nâng thu nhập bình quân đầu người từ hơn 5.000 USD hiện nay lên khoảng 28.000 USD vào năm 2045, quy mô nền kinh tế phải tăng hơn 5 lần.
Trong khi đó, với bối cảnh hiện nay, có những kinh nghiệm đã từng đúng nhưng có thể không còn đủ yếu tố để áp dụng trước tình hình mới. Có những cách làm từng tạo ra tăng trưởng nhưng đang chạm tới giới hạn. Có những điểm nghẽn không nằm ở thiếu chủ trương hay thiếu nguồn lực, mà ở cách tổ chức quyền lực, cách phối hợp, chất lượng cán bộ và kỷ luật thực thi.
Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cấp bách: phải tiến hành cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Giảm tầng nấc trung gian, tổ chức lại không gian phát triển để bộ máy ra quyết định nhanh hơn, người dân và doanh nghiệp giảm chi phí, nguồn lực được khơi thông và cơ hội phát triển không bị bỏ lỡ. Đó là bước đi mở đường cho quá trình "Đổi mới mô hình phát triển" mà Nghị quyết số 19 của Ban Chấp hành Trung ương đã xác định.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: "Đổi mới mô hình phát triển không chỉ là điều chỉnh tăng trưởng; mà là đổi mới cách tạo ra, phân bổ và thụ hưởng thành quả phát triển; lấy Nhân dân và con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực. Khoa học, công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao... phải trở thành động lực chủ yếu".
Tại Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh đây là vấn đề rất lớn, rất mới, chưa có tiền lệ, có ý nghĩa định hình mô hình phát triển quốc gia đến năm 2045 và xa hơn. Nghị quyết không chỉ đặt ra yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng mà xác lập mô hình phát triển tổng thể; cụ thể hóa đường lối, khát vọng phát triển đất nước; lấy Nhân dân và con người làm mục tiêu cao nhất; kết tinh những nội dung cốt lõi của Nghị quyết Đại hội XIV, các nghị quyết liên quan và chắt lọc kinh nghiệm quốc tế phù hợp.
Nâng cao năng lực tự chủ
Thực tiễn 40 năm đổi mới và tinh thần Đại hội XIV cho thấy: kiên định mục tiêu không có nghĩa là bảo thủ trong cách làm; giữ vững nguyên tắc phải đi cùng đổi mới tư duy; nâng cao tự chủ chiến lược phải gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế.
Nhưng trong một thế giới biến động nhanh và cạnh tranh ngày càng gay gắt, tự chủ không chỉ là khả năng giữ vững ổn định, mà còn là năng lực làm chủ công nghệ, nguồn lực và con đường phát triển.
Sau 40 năm đổi mới, dư địa tăng trưởng dựa vào vốn, tài nguyên và lao động chi phí thấp đang dần thu hẹp. Mục tiêu tăng trưởng hai con số và trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 đòi hỏi Việt Nam chuyển sang mô hình phát triển dựa trên năng suất, tri thức, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Muốn vậy, trước hết phải đổi mới thể chế, phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia.
Ông Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, cho biết Nghị quyết 19 nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và năng lực cầm quyền của Đảng; đồng thời xác định phải đổi mới quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, phát huy đúng vai trò của Nhà nước kiến tạo, đồng thời thị trường phải đóng vai trò quyết định trong việc phân bổ các nguồn lực.
Khâu đột phá không chỉ nằm ở kinh tế, mà còn ở phương thức tổ chức phát triển: Nhà nước chuyển từ quản lý, kiểm soát sang kiến tạo, dẫn dắt; từ quản lý theo ngành sang quản trị theo hệ sinh thái; từ phát triển theo địa giới hành chính sang phát huy lợi thế, tăng cường liên kết vùng, liên kết ngành.
Hải Phòng là một thực tiễn sinh động. Lợi thế cảng biển và công nghiệp không chỉ được khai thác để thu hút đầu tư, mà đang từng bước chuyển hóa thành năng lực công nghệ, dịch vụ hậu cần và chuỗi giá trị, vượt lên mô hình tăng trưởng dựa vào lợi thế sẵn có, lao động chi phí thấp.
Ông Nguyễn Xuân Bình, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP. Hải Phòng, cho biết Hải Phòng đã làm được một việc là dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm quyết liệt; đồng thời tạo ra môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi, tạo được lòng tin cho nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.
Nhưng thu hút đầu tư và công nghệ mới chỉ là bước đầu. Điều quyết định là năng lực làm chủ công nghệ, tổ chức lại sản xuất và vươn lên trong chuỗi giá trị. Từ công nghiệp đến nông nghiệp, Việt Nam cần những doanh nghiệp đủ sức dẫn dắt quá trình chuyển đổi ấy.
GS.TS. Phạm Hồng Chương, Chủ tịch Hội đồng Giáo sư ngành Kinh tế, cho rằng những thành tựu to lớn của Cách mạng công nghiệp 4.0 đã tạo ra những cơ hội rất lớn cho doanh nghiệp có thể tiếp cận những công nghệ sản xuất mà trước đây không thể có được hoặc phải mất rất nhiều thời gian để phát triển nội bộ. Cơ hội sử dụng nguồn lực của mình để tiếp cận công nghệ bên ngoài đang mở ra hơn bao giờ hết. Việt Nam có đủ năng lực để tạo ra những chuỗi giá trị hoặc tham gia vào những chuỗi giá trị mà trong đó doanh nghiệp Việt Nam đóng vai trò chủ chốt.
Để cơ hội trở thành năng lực quốc gia, Nghị quyết 19 đặt doanh nghiệp ở trung tâm hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; Nhà nước kiến tạo, định hướng, chia sẻ rủi ro; viện nghiên cứu, trường đại học đưa tri thức và công nghệ vào sản xuất. Nhưng nền tảng sâu xa vẫn là con người. Công nghệ phải tạo ra năng suất cao hơn, thu nhập tốt hơn và nhiều cơ hội phát triển hơn cho Nhân dân.
Vì thế, đích đến năm 2045 không chỉ là Việt Nam trở thành một quốc gia phát triển, thu nhập cao, mà là một mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập, lấy chất lượng đời sống và hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu xuyên suốt.
Văn hóa và con người là nền tảng
Nghị quyết về Đổi mới mô hình phát triển Việt Nam xác định: văn hóa và con người là nền tảng, nguồn lực và động lực nội sinh của phát triển. Đây cũng là lựa chọn của nhiều quốc gia, bởi trong mô hình phát triển mới, chất lượng con người quyết định năng suất, năng lực sáng tạo và sức cạnh tranh quốc gia.
GS. Vũ Minh Khương, giảng viên Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Singapore, cho rằng đây là một nghị quyết có ý nghĩa rất đặc biệt. Trước hết, lấy con người là trung tâm, là chủ thể của công cuộc phát triển là điều rất quan trọng. Khi gặp một cách thức khó, đầu tiên phải hỏi con người ở đâu, tài năng ở đâu; tiếp đó là phải làm gì để những con người này có thể phát huy cao độ nhất và cần đào tạo cho tương lai như thế nào. Với các nước đã thành công, vấn đề này đều được đặc biệt coi trọng.
Con người là chủ thể kiến tạo năng lực tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường. Tự chủ không phải là khép kín hay tự làm mọi thứ bằng mọi giá, mà là khả năng làm chủ những lĩnh vực thiết yếu, chủ động thích ứng với thế giới đầy biến động và không để bị động, lệ thuộc.
Từ mỗi ngành, mỗi địa phương đến từng cơ quan đều phải đa dạng hóa thị trường, nguồn cung; làm chủ dữ liệu, công nghệ và tri thức cốt lõi; luôn có phương án chủ động ứng phó trước mọi biến động.
Muốn tự chủ phải có thực lực, phải bồi đắp sức mạnh nội sinh của đất nước. 11 nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị đang đồng thời củng cố cả nội lực vật chất và nội lực tinh thần: phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, sức năng động và sáng tạo của kinh tế tư nhân, kết hợp với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế; đồng thời phát triển văn hóa, giáo dục, chăm lo con người thành nền tảng, nguồn lực và động lực nội sinh. Khi hai nguồn lực ấy được kết nối và phát huy, tự lực, tự cường mới trở thành năng lực phát triển thực chất của quốc gia.
Ông Phạm Quang Vinh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, cho rằng trong tự chủ chiến lược, một là phải tăng cường năng lực nội sinh của nền kinh tế, môi trường xã hội và nguồn nhân lực Việt Nam. Thứ hai là tranh thủ hợp tác quốc tế và mô hình chuyển giao công nghệ hiệu quả. Việt Nam có vị trí địa chiến lược lớn để hợp tác quốc tế, qua đó tiếp thu, phát triển và biến công nghệ thành của mình, làm chủ công nghệ.
Lộ trình đến năm 2045, tầm nhìn năm 2130
Nghị quyết Đổi mới mô hình phát triển Việt Nam xác lập một lộ trình xuyên suốt: hoàn thành nền tảng vào năm 2030; cơ bản chuyển đổi mô hình vào năm 2035; hoàn thành chuyển đổi vào năm 2045 và định hướng tầm nhìn đến năm 2130. Kết quả của mỗi chặng phải tạo nền tảng và năng lực cho bước phát triển cao hơn của đất nước.
Năm 2030, hoàn thành các nền tảng trong mô hình phát triển mới phù hợp với trình độ phát triển của nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, với GDP bình quân đầu người là 8.500 USD.
Năm 2035 là mốc đánh giá quan trọng: tăng trưởng đã thực sự chuyển sang dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao hay chưa; đất nước đã cơ bản hoàn thành quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập hay chưa.
Đến năm 2045, nước ta trở thành nước phát triển, người dân có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hoàn thành chuyển đổi sang mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững, hội nhập và các mô hình thành phần trên các lĩnh vực được vận hành đồng bộ, hài hòa, hiệu quả. Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Những kết quả đạt được đến năm 2045 sẽ tạo nền tảng để Việt Nam nâng cao năng lực tự chủ chiến lược; tiếp tục phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập, hướng tới tầm nhìn 100 năm đến năm 2130.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: Tầm nhìn trăm năm là xác định rõ những giá trị phải giữ vững, vị thế đất nước muốn vươn tới và những năng lực phải bắt đầu xây dựng từ hôm nay. Tầm nhìn phải đủ rộng để phổ quát mọi vấn đề; đủ lớn để quy tụ khát vọng của toàn dân tộc, đủ bền để nối tiếp qua nhiều thế hệ và đủ mở để thích ứng với những thay đổi chưa thể biết trước.
Với tầm nhìn 100 năm đến 2130, Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh, hiện đại, bản sắc, có năng lực sáng tạo và sức sống trường tồn.
Để đi tới đích đó, thành quả của chặng đường trước phải tạo nền tảng và năng lực cho chặng sau. Phát triển hôm nay không thể đánh đổi nguồn lực, môi trường và công bằng xã hội, càng không thể để lại gánh nặng cho các thế hệ tương lai. Không để tư duy nhiệm kỳ chia cắt chiến lược; không để địa giới hành chính chia cắt không gian phát triển và lợi ích quốc gia.
Đổi mới mô hình phát triển là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa lịch sử, nhằm tạo ra năng lực phát triển mới, hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi thế hệ có hoàn cảnh và nhiệm vụ lịch sử riêng, nhưng đều chung mục tiêu phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Trách nhiệm của thế hệ hôm nay là kế thừa thành quả của các thế hệ đi trước, kiên định mục tiêu, đồng thời có đủ bản lĩnh và năng lực đổi mới để hoàn thành trọng trách mang tính thời đại của mình.
Cách tiếp nối xứng đáng nhất đối với các thế hệ đi trước là trách nhiệm và hành động của hôm nay. Trách nhiệm lớn nhất đối với các thế hệ mai sau là tạo dựng nền tảng vững chắc, mở rộng cơ hội phát triển và trao lại cho những thế hệ sau một đất nước giàu mạnh hơn, tự chủ hơn, hạnh phúc hơn.
Mỗi dịp Quốc khánh là một lần chúng ta nhìn lại chặng đường đã qua với niềm tự hào, đồng thời nhận thức sâu sắc hơn trách nhiệm đưa đất nước phát triển, để Nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc, tương lai dân tộc ngày càng rộng mở.
Cách đây tròn một năm, Quảng trường Ba Đình và các tuyến phố trung tâm Thủ đô rợp sắc cờ hoa trong Lễ diễu binh, diễu hành kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh. Khí thế hào hùng của buổi lễ đã khắc họa hình ảnh một Việt Nam hòa bình, thống nhất, đoàn kết, tự tin và vững bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Không chỉ là sự kiện trọng đại của đất nước, buổi lễ còn khơi dậy niềm tự hào dân tộc, lan tỏa tình yêu nước và khát vọng cống hiến trong mỗi người Việt Nam, tiếp thêm động lực để đất nước vững bước trong kỷ nguyên phát triển mới.
Bình luận (0)