Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP của Chính phủ: Quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đã rút ngắn thủ tục cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Tại Đắk Lắk, yêu cầu tiếp theo không chỉ là cấp thêm mã, mà phải biến mã số thành dữ liệu sống, theo dõi được quá trình sản xuất và xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong chuỗi xuất khẩu.
*Cấp mã nhanh nhưng dữ liệu phải sống
Vụ thu hoạch sầu riêng tại Đắk Lắk đã qua cao điểm, nhưng công việc quyết định khả năng đi đường dài của loại trái cây tỷ đô mới thực sự bắt đầu. Khi thủ tục cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói được rút ngắn, áp lực chuyển sang chất lượng dữ liệu, năng lực hậu kiểm và trách nhiệm duy trì mã số.
Đắk Lắk hiện có hơn 410 mã số vùng trồng sầu riêng, với diện tích khoảng 11.000 ha và 73 cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu. Song song với mở rộng diện tích được cấp mã, tỉnh triển khai chiến dịch cao điểm “30 ngày đêm” rà soát, chuẩn hóa và số hóa dữ liệu vùng trồng, cơ sở đóng gói. Kết quả bước đầu tạo nền dữ liệu phục vụ quản lý vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc và kết nối với hệ thống quốc gia.
Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP tạo ra thay đổi trong thủ tục cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Hồ sơ được thực hiện trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công quốc gia; chính quyền cấp xã được phân cấp tiếp nhận, kiểm tra và xử lý nội dung thuộc thẩm quyền. Với sản phẩm xuất khẩu sang thị trường không yêu cầu phê duyệt mã số, thời gian giải quyết tối đa ba ngày làm việc; trường hợp thị trường nhập khẩu yêu cầu phê duyệt, thời hạn thông báo sau kiểm tra không quá 10 ngày làm việc. Quy trình mới rút ngắn thời gian, giảm thủ tục ban đầu và chuyển mạnh sang hậu kiểm, đồng thời nâng yêu cầu về tính chính xác của dữ liệu.
Tuy nhiên, mã số chỉ có giá trị khi thông tin phía sau phản ánh đúng vùng trồng, quy trình canh tác và sản lượng thực tế. Nếu chỉ rút ngắn thời gian cấp mã mà không theo được dữ liệu sản xuất, nguy cơ mượn mã, sử dụng sai mã hoặc đưa hàng ngoài vùng trồng vào chuỗi xuất khẩu vẫn còn. Bởi vậy, cải cách thủ tục phải đi cùng số hóa và kết nối dữ liệu.
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk Đặng Thị Thủy cho rằng, không nên chỉ tập trung vào số lượng mã số vùng trồng. Cốt lõi là tổ chức lại sản xuất và chuẩn hóa dữ liệu từ từng hộ, từng diện tích. Thời gian qua, doanh nghiệp, hợp tác xã và đơn vị xuất khẩu tự xây dựng nhiều giải pháp công nghệ khác nhau, nhưng dữ liệu phân tán, khó kết nối thành một hệ thống chung phục vụ quản lý.
Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk, tỉnh đã xây dựng Bản đồ số nông nghiệp, vận động doanh nghiệp, hợp tác xã chia sẻ dữ liệu để tích hợp. Trong chiến dịch “30 ngày đêm”, 8 tổ công tác đã số hóa hơn 7.000 ha của hơn 3.000 hộ. Không chỉ tập trung vào việc cấp mã số vùng trồng, cốt lõi là phải tổ chức và chuẩn hóa lại khâu sản xuất.
Dữ liệu chỉ có giá trị khi được cập nhật từ hoạt động sản xuất hằng ngày. Nông dân phải ghi nhận phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và thời điểm thu hoạch; hợp tác xã tổ chức, kiểm tra vùng nguyên liệu; cơ sở đóng gói quản lý lô hàng; doanh nghiệp lưu thông tin xuất khẩu. Một mắt xích ghi thiếu hoặc ghi thay cho mắt xích khác sẽ làm sai toàn bộ quá trình truy xuất.
Bà Ngô Tường Vy, Công ty cổ phần Tập đoàn Xuất khẩu trái cây Chánh Thu cho rằng, việc cấp thủ tục cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phải thực hiện nguyên tắc “đúng người, đúng việc”. Doanh nghiệp không thể nhập nhật ký canh tác thay nông dân rồi chịu rủi ro nếu vùng trồng sử dụng sai thuốc bảo vệ thực vật. Trong khi đó, nhiều nông dân còn gặp khó ngay cả với sổ ghi chép bằng giấy, chưa nói đến việc nhập dữ liệu lên phần mềm. Vì vậy, lực lượng khuyến nông cấp xã cần trực tiếp hướng dẫn, nhưng người sản xuất vẫn phải chịu trách nhiệm về thông tin của vườn mình.
Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Đắk Lắk Đinh Văn Đang đề xuất huy động tổ khuyến nông cộng đồng làm hạt nhân, trực tiếp hướng dẫn người dân thu thập và cập nhật dữ liệu. Công nghệ có thể hỗ trợ đọc sổ tay canh tác qua ảnh chụp hoặc chuyển giọng nói thành văn bản, nhưng không thể thay trách nhiệm xác nhận tính chính xác của chủ vườn và cơ quan quản lý tại địa bàn.
*Phân rõ trách nhiệm từ vườn đến container
Khi dữ liệu rời khỏi vườn trồng để đi vào chuỗi thu mua, bài toán trở nên phức tạp hơn. Một container sầu riêng khoảng 20 tấn có thể được gom từ nhiều vườn. Doanh nghiệp phải chứng minh từng lô hàng đến từ vùng trồng nào, được đóng gói ở đâu và đáp ứng quy trình ra sao. Nếu thông tin giữa tem, mã vùng trồng, cơ sở đóng gói và hồ sơ kiểm dịch không khớp, toàn bộ lô hàng có thể đối mặt với rủi ro.
Từ thực tế xuất khẩu, đại diện Công ty cổ phần Tập đoàn Xuất khẩu trái cây Chánh Thu cho biết, số vùng trồng được phê duyệt cho thị trường Trung Quốc chưa đáp ứng nhu cầu nguyên liệu; có hồ sơ phải chờ trong thời gian dài. Việc thu mua từ hàng trăm nhà vườn khiến doanh nghiệp khó tổ chức đủ sản lượng đồng nhất cho từng lô. Bà đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu lớn, kiểm soát được diện tích và sản lượng dự kiến của từng vùng trồng, sau đó sử dụng dữ liệu đã chuẩn hóa làm cơ sở đàm phán với thị trường nhập khẩu.
Một số doanh nghiệp xuất khẩu cho rằng mỗi container chỉ gắn với một mã, trong khi đại diện Cục Bảo vệ thực vật khẳng định pháp luật Việt Nam và các thỏa thuận đã rà soát không cấm sử dụng nhiều mã số vùng trồng trong một container. Điểm thống nhất là dù sử dụng một hay nhiều mã, doanh nghiệp phải tách được từng lô, chứng minh chính xác nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu của nước nhập khẩu. Đây là nội dung cần sớm được hướng dẫn thống nhất để doanh nghiệp không phải vận hành theo những cách hiểu khác nhau.
Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Đắk Lắk Nguyễn Hắc Hiển cho rằng, phần mềm và các trường dữ liệu phải được chuẩn hóa. Nếu mỗi đơn vị sử dụng một hệ thống riêng, thông tin khó liên thông với nền tảng quốc gia. Truy xuất không dừng ở quét mã QR mà phải xác định được vùng trồng, lô sản xuất và chủ thể chịu trách nhiệm.
Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Quang Tin cho biết, sầu riêng được chọn thí điểm hệ thống truy xuất trước khi mở rộng sang các ngành hàng khác. Trước mắt, một số doanh nghiệp sẽ dành một phần sản lượng chạy thử để phát hiện những điểm chưa khớp từ dán tem, quản lý vùng trồng đến kiểm soát vật tư.
Bên cạnh truy xuất đối với quả tươi, doanh nghiệp đang đặc biệt lo ngại khoảng trống quản lý ở khâu bóc múi, cấp đông. Bà Nguyễn Thị Thái Thanh, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Ban Mê Green Farm, cho biết doanh nghiệp chế biến cần một danh mục rõ ràng về thuốc bảo vệ thực vật và chế phẩm xử lý sau thu hoạch: sản phẩm nào được phép sử dụng tại Việt Nam, đồng thời đáp ứng giới hạn của thị trường nhập khẩu. Khi hướng dẫn chưa cụ thể, doanh nghiệp có thể tuân thủ theo cách hiểu của mình nhưng vẫn đối mặt rủi ro pháp lý và nguy cơ lô hàng bị cảnh báo.
Đại diện Công ty cổ phần Tập đoàn Xuất khẩu trái cây Chánh Thu cảnh báo, nhiều cơ sở bóc múi, cấp đông nhỏ lẻ đang hoạt động trong điều kiện vệ sinh chưa được kiểm soát đầy đủ. Chỉ một lô hàng vi phạm an toàn thực phẩm cũng có thể ảnh hưởng đến uy tín của những doanh nghiệp làm ăn nghiêm túc và cả ngành hàng. Vì vậy, truy xuất nguồn gốc phải đi cùng hậu kiểm cơ sở chế biến, kiểm soát hoạt chất và chế tài đủ sức ngăn ngừa việc sử dụng mã số hoặc dữ liệu như một lớp vỏ hợp thức hóa sản phẩm.
Việc đơn giản hóa thủ tục theo Nghị quyết 36 vì thế không làm giảm yêu cầu quản lý. Tiền kiểm được rút gọn thì hậu kiểm phải chính xác hơn; cấp mã được phân về cơ sở thì năng lực cán bộ cấp xã, hệ thống khuyến nông và dữ liệu dùng chung phải được tăng cường tương ứng. Mã số có thể được cấp trong vài ngày, nhưng uy tín của một vùng trồng chỉ hình thành qua nhiều vụ sản xuất tuân thủ đúng quy trình.
Lợi thế về diện tích, sản lượng chỉ phát huy khi vùng nguyên liệu được quản lý bằng dữ liệu có thể kiểm chứng, doanh nghiệp mua đúng hàng đã đăng ký và cơ quan quản lý truy được trách nhiệm khi xảy ra vi phạm. Đưa dữ liệu vào từng vùng trồng không chỉ phục vụ thủ tục xuất khẩu, mà còn bảo vệ thương hiệu sầu riêng Đắk Lắk trước khi trái cây rời vườn.
Bình luận (0)