Khi công nghệ nâng tầm sản phẩm OCOP Lai Châu

VTV.vn - Từ nương Chè, vườn sâm đến miến dong, mắc ca, đông trùng hạ thảo, các chủ thể OCOP Lai Châu đang đổi mới công nghệ, chuyển đổi số để nâng giá trị, mở rộng thị trường.

Từ sản xuất đến chế biến, quảng bá và tiêu thụ, các chủ thể OCOP Lai Châu đang từng bước đưa khoa học công nghệ và chuyển đổi số vào chuỗi giá trị nông sản. Ảnh: Dương Duy

Từ sản xuất đến chế biến, quảng bá và tiêu thụ, các chủ thể OCOP Lai Châu đang từng bước đưa khoa học công nghệ và chuyển đổi số vào chuỗi giá trị nông sản. Ảnh: Dương Duy

Từ sản vật vùng cao đến sản phẩm hàng hóa

Giữa những vùng núi cao Tây Bắc, nơi điều kiện sản xuất còn không ít khó khăn, những sản phẩm nông nghiệp đặc trưng của Lai Châu đang từng bước thay đổi diện mạo. Không chỉ chú trọng chất lượng nguyên liệu, các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất còn mạnh dạn đầu tư máy móc, đổi mới quy trình, ứng dụng khoa học kỹ thuật và đưa chuyển đổi số vào quảng bá, tiêu thụ sản phẩm.

Đó là câu chuyện của Chè Tân Uyên, Sâm Lai Châu, Miến dong Bình Lư, Mắc ca Tân Uyên hay Đông trùng hạ thảo Huy Cương.

Khi công nghệ nâng tầm sản phẩm OCOP Lai Châu - Ảnh 1.

Những đồi chè Shan tuyết xanh mướt ở Tân Uyên là vùng nguyên liệu quan trọng, tạo nên sản phẩm chè đặc trưng của Lai Châu. Ảnh: Dương Duy

Điểm chung của những chủ thể này là tư duy sản xuất đang chuyển dần từ “làm ra sản phẩm” sang làm ra sản phẩm có chất lượng, có thương hiệu và có thị trường.

Tinh thần đó phù hợp với định hướng của Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Cùng với đó, Nghị quyết 71/NQ-CP của Chính phủ đã cụ thể hóa, cập nhật chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW, đưa các nhiệm vụ về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội.

Với nông nghiệp Lai Châu, quá trình ấy đang bắt đầu từ chính những chủ thể trực tiếp sản xuất.

Chè Tân Uyên: Đổi mới công nghệ để đi vào thị trường khó tính

Có mặt ở Tân Uyên từ hơn nửa thế kỷ, Công ty Cổ phần Trà Than Uyên là một trong những doanh nghiệp gắn bó lâu đời với cây chè Lai Châu.

Khi công nghệ nâng tầm sản phẩm OCOP Lai Châu - Ảnh 2.

Công nghệ mới được đầu tư vào dây chuyền chế biến chè tại Công ty Cổ phần Trà Than Uyên, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm và đáp ứng yêu cầu của các thị trường khó tính. Ảnh: Dương Duy

Theo ông Vũ Hoàng Mạnh, Giám đốc điều hành Công ty Cổ phần Trà Than Uyên, tiền thân của doanh nghiệp được thành lập từ năm 1959. Đến nay, Công ty đã chuyển sang mô hình cổ phần với 100% vốn tư nhân, quản lý trên 430 ha chè kinh doanh, chủ yếu là giống Shan tuyết được trồng từ những năm 1968, 1972.

Những con số cho thấy quy mô sản xuất không nhỏ: nhà máy chế biến chè Tân Uyên có công suất khoảng 80 tấn chè/ngày; bình quân mỗi năm Công ty thu hái trên 6.000 tấn chè búp tươi, chế biến hơn 1.500 tấn chè búp khô các loại.

Ông Vũ Hoàng Mạnh, Giám đốc điều hành Nhà máy chế biến Chè Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.

Từ vùng nguyên liệu ấy, chè Tân Uyên đã được đưa đến nhiều thị trường nước ngoài. Thị trường truyền thống chủ yếu là một số nước Trung Đông như Pakistan, Afghanistan. Những năm gần đây, doanh nghiệp bắt đầu định hướng sang những thị trường yêu cầu cao hơn như Trung Quốc, Đài Loan và Nhật Bản.

Để đáp ứng yêu cầu đó, công nghệ chế biến được xác định là một trong những yếu tố then chốt. “Hàng năm đều dành nguồn vốn để đầu tư cho phát triển công nghệ mới, các dây chuyền sản xuất mới”, ông Vũ Hoàng Mạnh cho biết.

Khi công nghệ nâng tầm sản phẩm OCOP Lai Châu - Ảnh 3.

Từ vùng nguyên liệu Than Uyên, sản phẩm Chè Shan tuyết từng bước mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu. Ảnh: Dương Duy

Nếu trước đây Công ty sử dụng nhiều máy móc, công nghệ cũ, thì những năm gần đây, gần như toàn bộ dây chuyền chế biến đã được thay đổi. Mục tiêu không chỉ là tăng năng suất mà quan trọng hơn là tạo ra sản phẩm có chất lượng ổn định, đáp ứng yêu cầu của những thị trường khó tính.

Đổi mới công nghệ ở nhà máy đồng thời được gắn với tổ chức lại vùng nguyên liệu. Công ty hiện có hơn 150 lao động là người địa phương. Trong sản xuất nông nghiệp, doanh nghiệp giao khoán trực tiếp cho các nhóm hộ, cung cấp phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và quy trình kỹ thuật.

Khi công nghệ nâng tầm sản phẩm OCOP Lai Châu - Ảnh 4.

Công nhân Công ty Cổ phần Trà Than Uyên thu hái chè tại vùng nguyên liệu. Việc quản lý vùng chè gắn với quy trình kỹ thuật giúp nâng cao chất lượng nguyên liệu đầu vào. Ảnh: Dương Duy

Hàng tháng, người nhận khoán còn được ứng trước tiền bán sản phẩm, qua đó tạo điều kiện để người lao động duy trì sản xuất và có nguồn thu nhập ổn định.

Từ một cây trồng gắn bó với vùng đất Than Uyên, chè đang từng bước trở thành một chuỗi sản xuất hàng hóa, trong đó khoa học kỹ thuật được đưa vào cả vùng nguyên liệu lẫn khâu chế biến.

Giữ nguồn gen quý, nâng giá trị Sâm Lai Châu

Nếu chè là cây trồng hàng hóa chủ lực thì Sâm Lai Châu lại mang trong mình giá trị đặc biệt của một nguồn dược liệu quý.

Tại Hợp tác xã Bảo tồn và Phát triển Sâm núi Lai Châu, khoa học công nghệ được xác định ngay từ khâu bảo tồn, nhân giống cho đến sản xuất và chế biến.

Khi công nghệ nâng tầm sản phẩm OCOP Lai Châu - Ảnh 5.

Vườn cung cấp cây giống Sâm Lai Châu tại xã Tả Lèng, tỉnh Lai Châu. Ảnh: Dương Duy

Ông Phạm Trung Ngọc, Chủ tịch HTX, cho biết hiện HTX có khoảng 3 ha, cơ bản đã được trồng phủ kín sâm; đồng thời có 10 vườn ươm bảo tồn giống cho Viện Khoa học Việt Nam, tập trung vào giống thuần chủng Sâm Lai Châu.

Với hệ thống vườn ươm này, HTX có khả năng cung ứng khoảng 300.000 cây giống cho người dân, doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh.

Khi công nghệ nâng tầm sản phẩm OCOP Lai Châu - Ảnh 6.

Hệ thống vườn ươm giống Sâm Lai Châu của Hợp tác xã Bảo tồn và Phát triển Sâm núi Lai Châu góp phần bảo tồn nguồn gen và cung cấp cây giống cho người dân, doanh nghiệp. Ảnh: Dương Duy

Đối với một sản phẩm OCOP đặc thù như Sâm Lai Châu, việc ứng dụng khoa học công nghệ không chỉ nhằm tăng năng suất mà còn là yêu cầu để kiểm soát chất lượng trong toàn bộ quá trình sản xuất.

“Vì sản phẩm của chúng tôi là sản phẩm OCOP nên tất cả các khâu áp dụng khoa học vào sản xuất phải rất bài bản. Từ khi trồng đến thu hoạch, đóng gói đều tự động hết”, ông Phạm Trung Ngọc chia sẻ.

Ông Phạm Trung Ngọc, Chủ tịch Hợp tác xã Bảo tồn và Phát triển Sâm núi Lai Châu.

Trong các vườn sâm, độ ẩm được kiểm soát bằng thiết bị đo; quy trình sản xuất từng bước được chuẩn hóa. Theo lãnh đạo HTX, đây đang được xây dựng thành mô hình điểm về ứng dụng khoa học kỹ thuật của tỉnh cũng như khu vực phía Bắc.

Điều đáng nói là với cây sâm, công nghệ không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn. Một nguồn giống tốt được duy trì, nhân giống đúng quy trình sẽ là nền tảng để mở rộng vùng trồng mà không đánh mất giá trị di truyền quý của cây sâm bản địa.

HTX cũng chủ động tìm đầu ra bằng chuyển đổi số. Trang web được xây dựng để giới thiệu sản phẩm; các nền tảng Zalo, Facebook được sử dụng để quảng bá và tiếp cận khách hàng. Sản phẩm được đưa tới các chương trình OCOP quốc gia, hội chợ quốc tế về dược liệu và nhiều triển lãm trong, ngoài tỉnh.

Khi công nghệ nâng tầm sản phẩm OCOP Lai Châu - Ảnh 7.

Sâm Lai Châu được trồng, chăm sóc trong điều kiện kiểm soát, từng bước ứng dụng khoa học kỹ thuật vào quy trình sản xuất. Ảnh: Dương Duy

Khi công nghệ nâng tầm sản phẩm OCOP Lai Châu - Ảnh 8.

Sản phẩm từ Sâm Lai Châu được giới thiệu, quảng bá tại các chương trình xúc tiến thương mại, từng bước tiếp cận người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh. Ảnh: Dương Duy

Tuy nhiên, theo ông Phạm Trung Ngọc, một thực tế đáng trăn trở là Sâm Lai Châu vẫn chưa được nhiều người tiêu dùng biết đến.

Bài toán của HTX vì vậy không chỉ là sản xuất ra sâm tốt mà còn phải làm tốt hơn nữa khâu truyền thông, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường.

Trong khi đó, vốn vẫn là điểm nghẽn lớn nhất.

“Khó khăn nhất của chúng tôi là về nguồn vốn, vì thực tế vốn sản xuất sâm rất là cao”, ông Ngọc nói.

HTX mong muốn được hỗ trợ thêm nguồn vốn đầu tư ban đầu, đất sản xuất và tiếp tục có sự phối hợp của các Viện khoa học trong nhân giống, bảo tồn nguồn gen tốt của Sâm Lai Châu.

Đây cũng là vấn đề có ý nghĩa lâu dài, bởi phát triển cây sâm không thể chạy theo số lượng mà phải đi cùng bảo tồn, chuẩn hóa chất lượng và xây dựng thương hiệu.

Mắc ca, Miến dong: Máy móc thay đổi cách làm nông sản

Ở xã Tân Uyên, Hợp tác xã Hội Cựu thanh niên xung phong đang lựa chọn một hướng đi khác với cây mắc ca: đầu tư máy móc để giảm lao động thủ công, nâng chất lượng sản phẩm và tăng hiệu quả chế biến.

Ông Nguyễn Xuân Cát, Chủ tịch HTX, cho biết đơn vị được thành lập từ năm 2010, đã đầu tư nhà xưởng khoảng 500 m² cùng hệ thống máy móc phục vụ sản xuất.

Khi công nghệ nâng tầm sản phẩm OCOP Lai Châu - Ảnh 9.

Ông Nguyễn Xuân Cát (ngoài cùng bên phái), Chủ tịch Hợp tác xã Hội Cựu thanh niên xung phong Tân Uyên, giới thiệu qui mô, diện tích Mắc ca của HTX. Ảnh: Dương Duy

Ngoài khoảng 2 ha diện tích nhà trồng của HTX, đơn vị còn liên kết với các thành viên và thu mua sản phẩm của người dân trong tỉnh tại những nơi chưa có cơ sở sản xuất, chế biến.

Trong quá trình đó, HTX phối hợp với Hiệp hội Mắc ca Việt Nam nghiên cứu, lựa chọn và đầu tư các loại máy móc chuyên dụng.

Hiệu quả thấy rõ sau đầu tư: giảm đáng kể nhân công, đồng thời chất lượng sản phẩm ổn định hơn.

Đây là một ví dụ cho thấy ứng dụng khoa học công nghệ không nhất thiết phải là những dây chuyền quá hiện đại hay quy mô lớn. Với một HTX, một chiếc máy phù hợp, giải quyết đúng “nút thắt” trong sản xuất cũng có thể tạo ra thay đổi lớn về năng suất và chất lượng.

Nhưng nếu sản xuất đã dần ổn định thì tiêu thụ lại là bài toán khó.

Khi công nghệ nâng tầm sản phẩm OCOP Lai Châu - Ảnh 11.
Khi công nghệ nâng tầm sản phẩm OCOP Lai Châu - Ảnh 12.
Khi công nghệ nâng tầm sản phẩm OCOP Lai Châu - Ảnh 13.

Sản phẩm mắc ca sau chế biến được đóng gói, hoàn thiện để đưa ra thị trường; HTX đang từng bước ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao giá trị sản phẩm OCOP. Ảnh: Dương Duy

Sản phẩm mắc ca của HTX đã được chứng nhận OCOP 3 sao, nhưng theo ông Nguyễn Xuân Cát, việc đưa sản phẩm ra thị trường vẫn rất vất vả.

“Đều là nhà nông, không hiểu biết mấy về công nghệ thông tin cho nên cũng chưa có được sự quảng bá”, ông chia sẻ.

Đây là nghịch lý không hiếm gặp: người sản xuất có sản phẩm tốt nhưng lại thiếu kỹ năng số để đưa sản phẩm đến đúng khách hàng.

Ông Nguyễn Xuân Cát,Hợp tác xã Hội Cựu thanh niên xung phong Tân Uyên.

HTX đã nhận được sự quan tâm, hỗ trợ của tỉnh, trong đó có hỗ trợ thông qua ngành Công Thương. Năm 2022, HTX được hỗ trợ 50% kinh phí để mua 4 máy phục vụ sản xuất.

Tuy nhiên, để thực hiện tốt hơn vai trò bao tiêu sản phẩm cho người dân, HTX vẫn cần nguồn vốn phù hợp để thu mua nguyên liệu kịp thời.

Tại Bình Lư, câu chuyện tương tự cũng đang diễn ra với Miến dong.

Khi công nghệ nâng tầm sản phẩm OCOP Lai Châu - Ảnh 14.

Từ phương thức sản xuất thủ công, Hợp tác xã Miến dong Vững Tâm từng bước đầu tư máy móc, thiết bị nhằm nâng năng suất và chất lượng sản phẩm. Ảnh: Dương Duy

Khi công nghệ nâng tầm sản phẩm OCOP Lai Châu - Ảnh 15.

Những sợi miến dong được chế biến, đóng gói thành sản phẩm hàng hóa, hướng tới mở rộng thị trường trong nước và từng bước vươn ra nước ngoài. Ảnh: Dương Duy

Ông Đỗ Tuấn Tâm, Chủ tịch HTX Miến dong Vững Tâm, xã Bình Lư cho biết trước đây người dân chủ yếu sử dụng máy ép thủ công nên năng suất và chất lượng còn hạn chế. HTX Miến dong Vững Tâm đã lựa chọn cách “dám nghĩ, dám làm”, đầu tư nhà xưởng, máy móc, thiết bị nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

Nhờ đổi mới, chi phí sản xuất giảm, năng suất tăng đáng kể so với phương thức thủ công.

Không dừng lại ở máy móc, HTX còn bắt đầu áp dụng chuyển đổi số vào bán hàng, thương mại điện tử, mở thêm kênh kết nối với người tiêu dùng.

Nhưng đầu tư công nghệ cũng đồng nghĩa với áp lực vốn và thị trường.

Theo ông Đỗ Tuấn Tâm, khó khăn lớn của HTX hiện nay là nguồn vốn và đầu ra. Cuối năm 2025, nhờ sự quan tâm của chính quyền địa phương và Liên minh Hợp tác xã tỉnh Lai Châu, HTX đã tiếp cận được nguồn vốn vay ưu đãi để thu mua nguyên liệu và tăng công suất nhà xưởng.

Khi công nghệ nâng tầm sản phẩm OCOP Lai Châu - Ảnh 16.

Ông Đỗ Tuấn Tâm, Chủ tịch Hợp tác xã Miến dong Vững Tâm giới thiệu việc ứng dụng chuyển đổi số trong quảng bá và bán hàng trên các nền tảng thương mại điện tử. Ảnh: BLC

HTX mong muốn tiếp tục được hỗ trợ một phần kinh phí để đầu tư máy móc, thiết bị, đồng thời có cơ chế phù hợp hơn về thuế đối với lĩnh vực sản xuất, chế biến nông sản.

Mục tiêu của HTX không chỉ là nâng năng suất mà còn đưa sản phẩm miến dong Bình Lư đến thị trường trong nước và từng bước vươn ra nước ngoài.

Đông trùng hạ thảo: Khi sản xuất công nghệ cao đi cùng chuyển đổi số

Trong số những sản phẩm được đề cập, Đông trùng hạ thảo là ví dụ rõ nét về một hướng sản xuất nông nghiệp dựa nhiều vào công nghệ.

Khi công nghệ nâng tầm sản phẩm OCOP Lai Châu - Ảnh 17.

Quy trình nuôi cấy và chế biến Đông trùng hạ thảo Huy Cương được thực hiện trong điều kiện kiểm soát, tạo ra sản phẩm có chất lượng ổn định. Ảnh: Dương Duy

Tại Xưởng nấm Đông trùng hạ thảo Huy Cương, quá trình nghiên cứu và sản xuất đã được gia đình duy trì khoảng 16 năm.

Chị Bùi Thị Vân, chủ cơ sở, cho biết những năm đầu, khó khăn lớn nhất là vốn để đầu tư máy móc, thiết bị. Đến nay, cơ sở đã có 8 máy sấy, trong đó mới đây được Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí để mua thêm 2 máy sấy thăng hoa.

Với sản phẩm đặc thù, việc kiểm soát quy trình nuôi cấy, thu hoạch, sấy và bảo quản có ý nghĩa quyết định tới chất lượng sản phẩm.

Khi công nghệ nâng tầm sản phẩm OCOP Lai Châu - Ảnh 18.
Khi công nghệ nâng tầm sản phẩm OCOP Lai Châu - Ảnh 19.
Khi công nghệ nâng tầm sản phẩm OCOP Lai Châu - Ảnh 20.
Khi công nghệ nâng tầm sản phẩm OCOP Lai Châu - Ảnh 21.

Hệ thống máy sấy thăng hoa được cơ sở đầu tư phục vụ chế biến đông trùng hạ thảo, góp phần nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm. Ảnh: Dương Duy

Nhưng sản xuất tốt mới chỉ là một nửa câu chuyện. Nửa còn lại là làm sao để khách hàng biết đến và tin tưởng sản phẩm.

Đây là lĩnh vực mà cơ sở Huy Cương đã tận dụng khá mạnh các nền tảng số.

“Bán hàng thì có nhiều kênh khác nhau, chẳng hạn bán buôn, bán lẻ, bán trên các nền tảng Facebook, Zalo, TikTok, nói chung là tất cả các nền tảng tôi đều tham gia”, chị Bùi Thị Vân cho biết.

Chị Bùi Thị Vân, Chủ cơ sở sản xuất Đông trùng hạ thảo Huy Cương, Lai Châu.

Chuyển đổi số vì vậy không chỉ là câu chuyện đưa sản phẩm lên mạng bán hàng, mà còn là cách xây dựng thương hiệu, tương tác trực tiếp với khách hàng và mở rộng thị trường vượt ra ngoài phạm vi địa phương.

Cùng với đó, việc sản phẩm được chứng nhận OCOP, ISO và các tiêu chuẩn khác giúp tăng mức độ tin tưởng của người tiêu dùng.

Từ một sản phẩm được nuôi cấy trong môi trường kiểm soát, Đông trùng hạ thảo đang trở thành một trong những ví dụ về khả năng kết hợp giữa khoa học công nghệ, chế biến sâu và thương mại điện tử trong phát triển sản phẩm OCOP ở vùng cao.

Không để công nghệ dừng ở nhà xưởng

Những câu chuyện từ Chè, Sâm, Mắc ca, Miến dong đến Đông trùng hạ thảo cho thấy một chuyển động đáng chú ý trong sản xuất nông nghiệp Lai Châu.

Các chủ thể OCOP đã bắt đầu thay đổi tư duy: không chỉ sản xuất theo kinh nghiệm mà từng bước dựa vào khoa học; không chỉ bán sản phẩm mà chú trọng xây dựng thương hiệu; không chỉ chờ khách hàng tìm đến mà chủ động tiếp cận thị trường trên môi trường số.

Khi công nghệ nâng tầm sản phẩm OCOP Lai Châu - Ảnh 22.

Ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số tại Công ty Cổ phần Trà Than Uyên. Ảnh: Dương Duy

Tuy nhiên, hành trình này vẫn còn nhiều điểm nghẽn.

Đó là nguồn vốn đầu tư cho máy móc, thiết bị và vùng nguyên liệu; trình độ ứng dụng công nghệ của một bộ phận chủ thể còn hạn chế; kỹ năng số chưa đồng đều; thị trường tiêu thụ sản phẩm OCOP chưa thực sự ổn định.

Đặc biệt với các HTX, bài toán vốn lưu động để thu mua và bao tiêu nông sản cho người dân là vấn đề rất thực tế.

Mặt khác, đầu tư công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng thị trường. Một dây chuyền hiện đại sẽ khó tạo ra giá trị nếu sản phẩm làm ra không có đầu ra ổn định. Ngược lại, thị trường rộng mở lại đòi hỏi sản phẩm phải có chất lượng đồng đều, truy xuất được nguồn gốc, bao bì chuyên nghiệp và đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao.

Khi công nghệ nâng tầm sản phẩm OCOP Lai Châu - Ảnh 23.

Hợp tác xã Hội Cựu thanh niên xung phong Tân Uyên cần hỗ trợ thêm nguồn vốn để đầu tư máy móc, thiết bị phục vụ chế biến Mắc ca. Ảnh: Dương Duy

Khi công nghệ nâng tầm sản phẩm OCOP Lai Châu - Ảnh 24.

HTX Bảo tồn và Phát triển Sâm núi Lai Châu đang từng bước ứng dụng công nghệ, đầu tư máy móc thiết bị nhằm nâng cao giá trị sản phẩm OCOP. Ảnh: Dương Duy

Vì vậy, thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW và Nghị quyết 71/NQ-CP trong lĩnh vực nông nghiệp cần được nhìn nhận từ cả hai phía: đưa khoa học công nghệ vào sản xuất và đưa chuyển đổi số vào thị trường.

Những bước đi của Công ty Cổ phần Trà Than Uyên trong đổi mới dây chuyền; HTX Bảo tồn và Phát triển Sâm núi Lai Châu trong kiểm soát quy trình và bảo tồn nguồn gen; HTX Hội Cựu thanh niên xung phong Tân Uyên trong cơ giới hóa chế biến mắc ca; HTX Miến dong Vững Tâm trong đầu tư máy móc và thương mại điện tử; hay cơ sở Huy Cương trong sản xuất công nghệ cao và bán hàng đa nền tảng đang cho thấy hướng đi ấy.

Để những sản phẩm OCOP Lai Châu đi xa hơn, điều cần thiết không chỉ là những chiếc máy mới trong nhà xưởng. Đó còn là dữ liệu, kỹ năng số, thương hiệu, tiêu chuẩn chất lượng, vốn và một hệ sinh thái thị trường đủ mạnh.

Khi công nghệ nâng tầm sản phẩm OCOP Lai Châu - Ảnh 25.

Các sản phẩm OCOP đặc trưng của Lai Châu được giới thiệu, quảng bá tại các chương trình xúc tiến thương mại, từng bước tiếp cận người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh. Ảnh: Quốc Hưng

Khi công nghệ nâng tầm sản phẩm OCOP Lai Châu - Ảnh 26.

Đa dạng các nhóm sản phẩm OCOP của tỉnh Lai Châu giới thiệu, quảng bá tại các hoạt động xúc tiến thương mại. Ảnh: Quốc Hưng

Khi những yếu tố đó được kết nối, chè Tân Uyên, Sâm Lai Châu, Mắc ca, Miến dong Bình Lư hay Đông trùng hạ thảo Huy Cương sẽ không chỉ là những sản phẩm đặc trưng của vùng cao, mà có thể trở thành những thương hiệu nông sản có giá trị cao, góp phần tạo sinh kế bền vững cho người dân và mở ra một diện mạo mới cho nông nghiệp Lai Châu trong thời đại khoa học, công nghệ và chuyển đổi số.

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bình luận không đăng nhập

Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.