Ông Nguyễn Đình Việt, Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La nhấn mạnh, các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của sản xuất, có địa chỉ ứng dụng và được đánh giá bằng hiệu quả sau chuyển giao. Doanh nghiệp, hợp tác xã và địa phương cần tham gia ngay từ khâu xác định yêu cầu nghiên cứu đến tiếp nhận, ứng dụng và nhân rộng kết quả, khắc phục tình trạng nghiên cứu hoàn thành nhưng khó đưa vào sản xuất.
Nghiên cứu từ nhu cầu sản xuất
Thực hiện chủ trương phát triển nông nghiệp ứng dụng khoa học, công nghệ, Sơn La đã triển khai nhiều nhiệm vụ nghiên cứu giống, hoàn thiện quy trình canh tác và chuyển giao kỹ thuật cho người dân. Giai đoạn 2020-2025, tỉnh Sơn La thực hiện 21 nhiệm vụ khoa học và công nghệ trong lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ thực vật, tập trung vào tuyển chọn giống, quản lý sinh vật gây hại, tưới tiết kiệm và bảo quản sau thu hoạch.

Ông Nguyễn Xuân Thao, Giám đốc HTX cà phê Bích Thao (Sơn La).
Đối với cây cà phê, việc tuyển chọn giống mới được đặt ra khi nhiều diện tích trồng lâu năm cần tái canh, cải tạo, trong khi yêu cầu về năng suất và chất lượng nguyên liệu ngày càng cao. Giai đoạn 2021-2024, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển nông lâm nghiệp Tây Bắc thực hiện đề tài "Nghiên cứu tuyển chọn một số giống cà phê chè có năng suất, chất lượng cao phù hợp với điều kiện tự nhiên tỉnh Sơn La".
Tham gia đề tài, thạc sĩ Nguyễn Thị Vân, cán bộ Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển nông lâm nghiệp Tây Bắc, cho biết nhóm nghiên cứu đã thu thập, đánh giá nhiều giống cà phê chè để lựa chọn giống thích ứng với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của Sơn La.
Kết quả nghiên cứu xác định hai giống lai TN7 và TN9 sinh trưởng khỏe, năng suất trung bình từ 2,76-2,95 tấn cà phê nhân/ha. Hai giống nhập nội Stamaya và H1 thích ứng tốt với điều kiện sản xuất của Sơn La, đạt năng suất từ 1,90-2,31 tấn cà phê nhân/ha, chất lượng hạt cao hơn giống Catimor.

Ông Trần Dũng Tiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La.
Tuy nhiên, khả năng đưa giống mới vào sản xuất còn phụ thuộc vào điều kiện canh tác, kỹ thuật chăm sóc và hiệu quả kinh tế tại từng vùng trồng. Ông Trần Dũng Tiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La, cho biết việc lựa chọn công nghệ phải căn cứ vào những vấn đề cần giải quyết trong sản xuất, không chỉ dựa vào tính mới hoặc mức độ hiện đại của công nghệ.
Theo ông Trần Dũng Tiến, ngành nông nghiệp chú trọng khả năng nâng năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế và thời gian hoàn vốn; đồng thời xem xét sự phù hợp với điều kiện tự nhiên, quy mô canh tác, trình độ người sử dụng, yêu cầu bảo vệ môi trường và liên kết tiêu thụ. Những giải pháp có chi phí đầu tư hợp lý, dễ vận hành và có khả năng nhân rộng sẽ được ưu tiên trong hoạt động chuyển giao.
Đây cũng là yêu cầu tỉnh Sơn La đặt ra trong quá trình thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW và Nghị quyết 71/NQ-CP: tập trung nguồn lực cho các nhiệm vụ nghiên cứu có khả năng ứng dụng, đáp ứng nhu cầu của người sản xuất và thị trường.
Chuyển giao kết quả, đo được hiệu quả
Từ kết quả tuyển chọn giống, đề tài nghiên cứu cà phê chè đã xây dựng hai mô hình trồng giống Stamaya và H1 tại xã Chiềng Mai và phường Chiềng Cơi, mỗi mô hình có diện tích 1 ha. Các hộ tham gia được hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh theo quy trình.
Kết quả bước đầu cho thấy hai giống cà phê sinh trưởng, phát triển tốt, năng suất quả tươi đạt 12-15 tấn/ha. Sau khi trừ chi phí sản xuất, lợi nhuận tại các mô hình đạt từ 100-145 triệu đồng/ha.
Gia đình anh Lèo Văn Thuận, bản Co Sâu, xã Chiềng Mai, tham gia trồng thử nghiệm giống cà phê mới trên diện tích 1 ha. Trong quá trình thực hiện, gia đình được cán bộ kỹ thuật hướng dẫn từ khâu trồng, chăm sóc đến phòng trừ sâu bệnh. Theo anh Thuận, việc áp dụng đúng quy trình giúp vườn cà phê sinh trưởng đồng đều, nâng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất.
Cùng với xây dựng mô hình, đơn vị nghiên cứu tổ chức hai lớp tập huấn kỹ thuật và hai hội thảo đầu bờ, thu hút 100 đại biểu là cán bộ địa phương, khuyến nông viên và nông dân tham gia. Người trồng được tiếp cận quy trình kỹ thuật, theo dõi kết quả ngay tại vườn, có thêm cơ sở lựa chọn giống và phương pháp chăm sóc phù hợp.

Cán bộ Trung tâm Khuyến nông và Chuyển đổi số tỉnh trao đổi kinh nghiệm trồng và chăm sóc cà phê với HTX Cà phê Bích Thao.
Việc đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất cũng được triển khai tại các vùng cà phê hàng hóa của tỉnh Sơn La. Tại xã Mường Chanh, nơi có hơn 2.837 ha cà phê, chính quyền địa phương phối hợp với các cơ quan chuyên môn hướng dẫn người dân áp dụng kỹ thuật chăm sóc, sử dụng phân bón và phòng trừ sâu bệnh.
Ông Nguyễn Biên Cương, Chủ tịch UBND xã Mường Chanh, tỉnh Sơn La, cho biết năng suất cà phê bình quân trên địa bàn đạt khoảng 12 tấn quả tươi/ha; những diện tích được chăm sóc tốt đạt 15-18 tấn/ha. Trên 50% số hộ trồng cà phê tham gia các chương trình phát triển bền vững, liên kết với hợp tác xã và doanh nghiệp.
Bên cạnh cây cà phê, một số mô hình ứng dụng giống mới trong sản xuất cây ăn quả cũng được ngành nông nghiệp Sơn La ghi nhận. Theo ông Trần Dũng Tiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La, các giống na SR1 và na Hoàng hậu đạt năng suất khoảng 13-15 tấn/ha, giá trị sản xuất 300-400 triệu đồng/ha. Những kết quả này cho thấy việc lựa chọn giống và kỹ thuật phù hợp có ý nghĩa đối với nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.

Nhà máy chế biến cà phê Sơn La, xã Chiềng Mung, tỉnh Sơn La.
Tuy nhiên, ông Trần Dũng Tiến cũng cho biết việc đánh giá hiệu quả trước và sau ứng dụng khoa học, công nghệ chưa đồng đều giữa các mô hình, nhất là đối với lượng vật tư đầu vào, công lao động, tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch và chênh lệch giá bán. Ngành Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La sẽ tiếp tục hoàn thiện phương pháp đánh giá, tính toán đầy đủ chi phí đầu tư, vận hành, bảo trì và thời gian hoàn vốn, làm căn cứ lựa chọn công nghệ và nhân rộng mô hình.
Để kết quả nghiên cứu đến được với người sản xuất, ngành nông nghiệp Sơn La xác định tiếp tục đổi mới hoạt động khuyến nông, tăng cường phối hợp với các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp khoa học, công nghệ. Công tác tập huấn được định hướng gắn với nhu cầu từng vùng sản xuất, chú trọng hướng dẫn thực hành để nông dân và hợp tác xã có thể tiếp nhận, áp dụng và làm chủ kỹ thuật.

Ông Nguyễn Đình Việt, Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La.
Trong quá trình triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW và Nghị quyết 71/NQ-CP, tỉnh Sơn La đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 25% doanh nghiệp, hợp tác xã sử dụng kết quả nghiên cứu của viện, trường trong sản xuất, kinh doanh.
Theo ông Nguyễn Đình Việt, Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La, kết quả nghiên cứu khoa học không chỉ được đánh giá ở sản phẩm nghiên cứu mà còn phải tính đến khả năng ứng dụng, chuyển giao và giá trị thực tế mang lại. Các nhiệm vụ khoa học, công nghệ cần có sự tham gia của doanh nghiệp, hợp tác xã ngay từ đầu, xác định rõ nơi tiếp nhận và trách nhiệm tổ chức thực hiện.
Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật là nhiệm vụ tỉnh Sơn La tiếp tục tập trung thực hiện theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW và Nghị quyết 71/NQ-CP. Trong đó, việc lựa chọn giống, hoàn thiện quy trình canh tác và nhân rộng những mô hình có hiệu quả phải gắn với điều kiện sản xuất của từng địa phương, lấy năng suất, chất lượng, chi phí và thu nhập của người dân làm căn cứ đánh giá kết quả thực hiện.
Bình luận (0)