Người dân xã Bản Bo tích cực thu hái và tập kết chè búp tươi; sự đồng hành, gắn kết chặt chẽ giữa người sản xuất và doanh nghiệp trong khâu thu mua, bao tiêu sản phẩm giúp hình thành chuỗi giá trị bền vững.
Những đồi chè trải dài trên các sườn đồi ở xã Bản Bo, tỉnh Lai Châu, từ lâu đã gắn với sản xuất và đời sống của người dân địa phương. Nhờ điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp, cây chè trở thành một trong những cây trồng chủ lực, tạo việc làm, đem lại nguồn thu nhập thường xuyên cho nhiều hộ gia đình. Song, để phát huy lợi thế vùng nguyên liệu, địa phương không chỉ cần duy trì diện tích mà còn phải quan tâm hơn đến chất lượng, khả năng chế biến và thị trường tiêu thụ.
Vùng nguyên liệu lớn, yêu cầu cao hơn về chất lượng
Theo UBND xã Bản Bo, địa phương hiện có 1.124,9 ha chè, trong đó 1.042,6 ha đang trong thời kỳ kinh doanh. Sản lượng chè búp tươi từ đầu năm đến thời điểm thống kê ước đạt 5.380 tấn, bằng 45% kế hoạch. Đây là nguồn nguyên liệu đáng kể phục vụ hoạt động thu mua, chế biến, đồng thời cho thấy vai trò của cây chè trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp của xã.
Hiệu quả kinh tế của cây chè không chỉ phụ thuộc vào diện tích, sản lượng mà còn ở chất lượng búp tươi, chi phí chăm sóc, giá bán và khả năng tiêu thụ. Vùng trồng tập trung chỉ phát huy lợi thế lâu dài khi nguyên liệu đáp ứng yêu cầu chế biến và có đầu ra tương đối ổn định.

Nhờ hệ thống giao thông nông thôn được quan tâm đầu tư, nâng cấp, việc vận chuyển chè búp tươi từ nương ra các điểm thu mua trở nên thuận lợi, giúp rút ngắn thời gian và bảo đảm chất lượng nguyên liệu.
Vì vậy, cùng với duy trì diện tích hiện có, xã Bản Bo tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn người dân thực hiện các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất. Từ chăm sóc, bón phân, phòng trừ sâu bệnh đến thu hái đều được chú trọng theo hướng bảo đảm chất lượng nguyên liệu. Việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đúng quy định và thu hái đúng lứa giúp hạn chế tình trạng chè quá già, không đồng đều, ảnh hưởng đến chất lượng thành phẩm.
Chị Tòng Thị Thu, người dân bản Hợp Nhất, xã Bản Bo, chia sẻ: "Bản thân tôi tận dụng lợi thế đất đai, khí hậu của địa phương để phát triển cây chè. Trong quá trình sản xuất, gia đình được Nhà nước hỗ trợ, hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc nên có thêm điều kiện nâng cao năng suất, chất lượng chè. Nhờ cây chè, cuộc sống gia đình từng bước được cải thiện".

Những đồi chè xanh mướt nối tiếp nhau trải dài trên các sườn đồi tại xã Bản Bo (tỉnh Lai Châu) – vùng trồng chè tập trung đóng vai trò chủ lực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nâng cao thu nhập cho người dân.
Một khâu khác được địa phương quan tâm là hạ tầng giao thông phục vụ sản xuất. Những tuyến đường được đầu tư, nâng cấp tạo thuận lợi cho việc đưa vật tư nông nghiệp đến nương chè, đồng thời giúp vận chuyển búp tươi về các điểm thu mua nhanh hơn. Với nguyên liệu dễ giảm chất lượng nếu để lâu sau thu hái, việc rút ngắn thời gian vận chuyển có ý nghĩa trực tiếp đối với khâu chế biến.
Liên kết sản xuất, chế biến để gia tăng giá trị
Tại các điểm thu mua, chè búp tươi được người dân tập kết, cân và phân loại trước khi chuyển đến cơ sở chế biến. Hoạt động này góp phần kết nối các hộ sản xuất với doanh nghiệp, hợp tác xã, tạo điều kiện tiêu thụ nguyên liệu. Sự tham gia của các đơn vị thu mua cũng giúp hình thành mối liên hệ giữa nhu cầu chế biến với yêu cầu chất lượng ngay từ khâu sản xuất.
Một số doanh nghiệp không chỉ thu mua mà còn phối hợp hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc, thu hái để bảo đảm nguyên liệu đáp ứng quy trình chế biến. Theo anh Hà Minh Tuấn, Quản lý Công ty Đầu tư phát triển xanh Lai Châu: "Đơn vị tổ chức thu mua, bao tiêu chè búp tươi cho người dân, đồng thời hướng dẫn bà con kỹ thuật chăm sóc, thu hái để nâng cao chất lượng nguyên liệu. Qua đó, góp phần duy trì vùng nguyên liệu ổn định, đáp ứng yêu cầu sản xuất, chế biến của doanh nghiệp".

Việc ứng dụng máy móc, thiết bị và tuân thủ chặt chẽ quy trình kỹ thuật chăm sóc, thu hái giúp người dân xã Bản Bo nâng cao năng suất, chất lượng nương chè và giảm sức lao động thủ công.
Liên kết giữa người trồng chè và doanh nghiệp cần được đánh giá từ tính ổn định của đầu ra, tiêu chuẩn phân loại và sự hài hòa lợi ích giữa các bên. Quan hệ tiêu thụ rõ ràng sẽ giúp người dân chủ động hơn trong đầu tư chăm sóc và tổ chức sản xuất.
Ở khâu chế biến, chè búp tươi được đưa qua các công đoạn như làm héo, vò, sấy và kiểm tra chất lượng trước khi hoàn thiện sản phẩm. Việc ứng dụng máy móc, thiết bị giúp giảm bớt lao động thủ công, nâng năng suất và kiểm soát tốt hơn một số công đoạn. Theo số liệu được cung cấp, sản lượng chè khô các loại của xã từ đầu năm đến thời điểm thống kê đạt gần 1.500 tấn.
Không dừng ở các dòng chè truyền thống, cơ sở chế biến tại địa phương đã quan tâm đa dạng hóa sản phẩm, cải tiến mẫu mã bao bì. Những sản phẩm như trà Ô long Kim Tuyên, Ô long xanh, matcha, Đông phương mỹ nhân và trà phục vụ pha chế cho thấy định hướng tiếp cận nhiều nhóm khách hàng. Đây là cơ sở để tìm kiếm cơ hội ở các phân khúc có giá trị cao hơn, thay vì chỉ phụ thuộc vào tiêu thụ nguyên liệu ban đầu.

Đồng bào các dân tộc xã Bản Bo hái chè đúng lứa, đảm bảo tiêu chuẩn nguyên liệu sạch, góp phần tạo việc làm thường xuyên và nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình.
Dù vậy, đa dạng hóa sản phẩm không đồng nghĩa với giá trị kinh tế tự động tăng lên. Để chế biến sâu phát huy hiệu quả, sản phẩm cần giữ chất lượng ổn định, đáp ứng yêu cầu về an toàn thực phẩm, có thông tin nguồn gốc rõ ràng và tìm được thị trường phù hợp. Năng lực chế biến vì thế cần được xem xét cùng với khả năng tiêu thụ và xây dựng uy tín sản phẩm.
Bản Bo cũng đang triển khai mô hình thí điểm hỗ trợ chuyển đổi số cho hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và hộ sản xuất chè. Nội dung tập trung vào số hóa quy trình sản xuất, truy xuất nguồn gốc bằng mã QR và phát triển kênh bán hàng trên nền tảng số. Nếu được thực hiện đồng bộ, những công cụ này có thể hỗ trợ quản lý thông tin sản phẩm, giới thiệu hàng hóa và tiếp cận khách hàng ngoài địa bàn.

Cây chè không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế, góp phần giảm nghèo bền vững mà còn là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn xã Bản Bo.
Tuy nhiên, mã QR hay gian hàng trực tuyến chỉ có ý nghĩa khi đi cùng dữ liệu đáng tin cậy và chất lượng sản phẩm thực tế. Với sản phẩm nông nghiệp, niềm tin của người tiêu dùng không chỉ đến từ hình thức giới thiệu mà còn ở sự ổn định về chất lượng, quy trình sản xuất và trách nhiệm của đơn vị cung ứng. Vì vậy, chuyển đổi số cần gắn với hoàn thiện tổ chức sản xuất, thay vì được xem như giải pháp riêng lẻ.
Hiện tỷ lệ hộ nghèo của xã giảm xuống dưới 10%, thu nhập bình quân đầu người đạt 42,4 triệu đồng/năm. Cây chè góp phần tạo sinh kế trong bức tranh kinh tế địa phương, nhưng để xác định chính xác mức đóng góp của ngành hàng này vẫn cần thêm số liệu về thu nhập hộ trồng chè, chi phí sản xuất, giá thu mua và hiệu quả sau chế biến. Đây cũng là những thông tin có giá trị đối với việc hoạch định hướng phát triển trong thời gian tới.

Với sự thay đổi tư duy sản xuất cùng sự đồng hành của doanh nghiệp, vùng chè Bản Bo đang từng bước chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả kinh tế cao.
Theo anh Đinh Bá Thinh, Phó Trưởng Phòng Kinh tế xã Bản Bo, địa phương sẽ tiếp tục vận động người dân nâng cao chất lượng chăm sóc, thu hái; áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng cường liên kết với hợp tác xã, doanh nghiệp trong thu mua, chế biến và tiêu thụ. Đồng thời, xã khuyến khích phát triển sản phẩm có giá trị cao, từng bước xây dựng thương hiệu chè Bản Bo nhằm cải thiện thu nhập cho người dân.
Với hơn 1.100 ha chè, Bản Bo có nền tảng để phát triển sản xuất hàng hóa. Nhưng hiệu quả vùng chè không chỉ nằm ở diện tích, sản lượng mà còn ở chất lượng nguyên liệu, khả năng chế biến, thị trường tiêu thụ và thu nhập thực tế của người trồng. Đó cũng là những vấn đề cần được giải quyết để phát triển cây chè bền vững.
Bình luận (0)