Tín ngưỡng, tôn giáo góp phần giữ gìn bản sắc, gắn kết cộng đồng và bảo vệ môi trường ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, làm thế nào để phát huy nguồn lực này, đồng thời ngăn ngừa việc lợi dụng niềm tin để trục lợi?
Giữ rừng bằng quy ước cộng đồng, trao truyền tiếng nói, tri thức qua nghi lễ truyền thống… - tín ngưỡng, tôn giáo đang hiện diện trong đời sống bản làng hôm nay, góp phần duy trì những giá trị chung được trao truyền qua nhiều thế hệ.
PGS. TS. Nguyễn Trường Giang (Trưởng Khoa Nhân học và Tôn giáo học, trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) cho biết: “Ở miền núi phía Bắc cũng như các vùng sâu, vùng xa Việt Nam, nguồn lực tôn giáo và tín ngưỡng rất đa dạng, được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau. Ví dụ như sự đoàn kết của cộng đồng; thứ hai là trách nhiệm về mặt đạo đức; thứ ba là các cộng đồng này dựa trên sự bình đẳng và tôn trọng pháp luật của Nhà nước liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo”.
Đô thị hóa, di cư và thay đổi sinh kế đang tác động đến việc thực hành, trao truyền tín ngưỡng. Trước nguy cơ đứt đoạn truyền dạy giữa các thế hệ, thương mại hóa, sân khấu hóa nghi lễ, các chuyên gia nhấn mạnh, bảo tồn cần bắt đầu từ tiếng nói của cộng đồng.
ThS. Lương Thị Minh Ngọc (giảng viên Khoa Nhân học và Tôn giáo học, trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) nêu quan điểm: “Chúng tôi cho rằng cần tôn trọng quyền chủ động và quyền tự quyết của các tộc người. Họ mong muốn giữ gìn hay thay đổi thì chúng ta cần tôn trọng sự lựa chọn của họ. Vì vậy, khi đưa ra các chính sách hay biện pháp, cần đặt trong bối cảnh văn hóa cụ thể của từng cộng đồng và địa phương”.
Cùng với tôn trọng lựa chọn của người dân, cần nhận diện rõ ranh giới giữa phát huy giá trị và lợi dụng niềm tin, nhất là khi đưa tín ngưỡng vào khai thác du lịch.

TS. Lê Thị Liên (Phó Trưởng khoa Nhân học và Tôn giáo học, trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) chia sẻ: “Ranh giới giữa phát huy giá trị và sự lệch chuẩn rất mong manh. Khi chúng ta nhận thức sai lệch về các giá trị đạo đức truyền thống, hoặc lợi dụng giá trị truyền thống, giá trị cộng đồng, lợi dụng niềm tin của cộng đồng để thực hiện các hoạt động mê tín, trục lợi, những hoạt động lệch chuẩn thì rất dễ dẫn đến sự sai lệch. Trách nhiệm ở đây không chỉ thuộc về cộng đồng mà còn thuộc về xã hội, những người hướng dẫn và cả hệ thống pháp luật”.
Để cộng đồng trở thành chủ thể trực tiếp gìn giữ, trao truyền và hưởng lợi từ các giá trị văn hóa tín ngưỡng của mình, các giải pháp cần cụ thể hóa bằng nguồn lực hỗ trợ, quyền chủ động và cơ chế hưởng lợi. Các ý kiến tại tọa đàm khoa học về nguồn lực tín ngưỡng, tôn giáo trong cộng đồng dân tộc thiểu số vùng trung du và miền núi phía Bắc sẽ góp phần hoàn thiện báo cáo tư vấn chính sách gửi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
TS. Nguyễn Hữu Thụ (giảng viên chính trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) nói: “Theo tôi, có thể đề xuất ba cơ chế hỗ trợ. Thứ nhất là cơ chế tài chính. Chẳng hạn, hỗ trợ các nghệ nhân, người thực hành tín ngưỡng trong việc thực hành và trao truyền; hỗ trợ cộng đồng bảo tồn trang phục, nghi lễ, vật dụng tín ngưỡng, tôn giáo trong quá trình thực hành. Thứ hai là cơ chế hưởng lợi từ du lịch văn hóa tín ngưỡng, vốn khá phổ biến trong các hoạt động hiện nay. Thứ ba là cơ chế trao quyền chủ động cho cộng đồng trong việc bảo tồn và thực hành tín ngưỡng”.

Phát huy nguồn lực tín ngưỡng, tôn giáo bắt đầu từ việc hiểu đúng giá trị và nhu cầu của cộng đồng. Khi người dân được tham gia, được trao truyền và hưởng lợi, những giá trị ấy có thêm điều kiện tiếp nối, đóng góp vào bảo tồn bản sắc và phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số.
Bình luận (0)