Người dân tận dụng diện tích đất bãi ven sông để phát triển nghề trồng hoa, cây cảnh, tạo thêm nguồn thu nhập từ sản xuất nông nghiệp. Ảnh: BNB
Đa dạng hóa mô hình sản xuất, gia tăng giá trị đất bãi
Được bồi đắp bởi hệ thống sông Hồng, sông Đáy, sông Ninh Cơ, sông Châu và nhiều dòng sông lớn, các vùng đất bãi ở Ninh Bình sở hữu lợi thế về thổ nhưỡng, nguồn nước và điều kiện sinh thái. Từ những diện tích canh tác truyền thống, người dân đang từng bước chuyển sang phát triển các mô hình sản xuất có giá trị kinh tế cao hơn, gắn với nhu cầu thị trường. Không gian sản xuất ven sông vì thế ngày càng đa dạng, từ trồng hoa, cây cảnh, cây ăn quả đặc sản đến nuôi trồng thủy sản và phát triển các chuỗi sản phẩm hàng hóa.

Những vườn cây cảnh được quy hoạch, chăm sóc bài bản, góp phần nâng cao giá trị kinh tế trên diện tích đất bãi. Ảnh: BNB
Một trong những hướng khai thác nổi bật là phát triển nghề trồng cây cảnh, cây thế gắn với lợi thế đất phù sa. Tại phường Vị Khê, nghề trồng hoa, cây cảnh vốn có truyền thống lâu đời đang tiếp tục được mở rộng, trở thành nguồn sinh kế quan trọng của người dân. Không chỉ sản xuất các loại hoa phục vụ nhu cầu tiêu dùng, nhiều nhà vườn còn tập trung vào cây công trình, cây thế, bonsai và các loại cỏ trang trí. Đây là những sản phẩm đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc, tạo dáng và thời gian đầu tư dài hơn, nhưng có khả năng tạo ra giá trị gia tăng đáng kể.

Người dân tỉ mỉ cắt tỉa, tạo dáng cây cảnh, nâng cao giá trị sản phẩm trước khi đưa ra thị trường. Ảnh: BNB
Hiên trên địa bàn có khoảng 3.000 hộ trồng, kinh doanh cây cảnh. Việc kết hợp kinh nghiệm làm nghề truyền thống với ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật đã giúp các nhà vườn đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng thị trường và tạo việc làm thường xuyên cho lao động địa phương. Từ một nghề sản xuất quy mô hộ gia đình, cây cảnh đang từng bước trở thành ngành kinh tế quan trọng, góp phần tạo diện mạo mới cho vùng nông thôn ven sông.

Những vườn chuối tiêu hồng xanh tốt trên vùng đất bãi ven sông Hồng ở phường Duy Tân. Ảnh: TT
Ở những khu vực có điều kiện thổ nhưỡng đặc thù, việc lựa chọn cây trồng phù hợp còn tạo ra những sản phẩm mang dấu ấn riêng của từng vùng đất. Tiêu biểu là chuối ngự Đại Hoàng tại khu vực ven sông Châu. Nhờ điều kiện đất phù sa pha cát, giống chuối này có hương vị đặc trưng, được thị trường ưa chuộng.
Trao đổi với phóng viên, đại diện chính quyền địa phương cho biết, nghề trồng chuối ngự tại làng Đại Hoàng mang lại doanh thu khoảng 2,5 tỷ đồng, lợi nhuận sau khi trừ chi phí trên 1,5 tỷ đồng mỗi năm. Sản phẩm đã được cấp chứng nhận chỉ dẫn địa lý, đạt tiêu chuẩn VietGAP và OCOP, tạo cơ sở để nâng cao giá trị và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Đáng chú ý, diện tích trồng chuối ngự cũng được mở rộng sang những khu vực có điều kiện canh tác phù hợp, với hơn 50 ha tại địa bàn các xã Hòa Hậu và Tiến Thắng trước khi sắp xếp đơn vị hành chính. Việc phát triển cây trồng đặc sản không chỉ mang lại thu nhập cho người sản xuất mà còn góp phần gìn giữ giá trị sản phẩm truyền thống, khai thác lợi thế thổ nhưỡng và tạo dựng thương hiệu nông sản địa phương.

Chuối ngự Đại Hoàng không chỉ là sản phẩm nông nghiệp đặc sắc mà còn là biểu tượng của vùng đất giàu truyền thống văn hóa, lịch sử. Ảnh: TT
Trên vùng đất bãi ven sông Hồng ở phường Duy Tân, chăn nuôi bò sữa đang trở thành hướng sản xuất chủ lực, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân. Từ khoảng năm 2013, các hộ từng bước chuyển đổi diện tích trồng ngô tẻ sang trồng cỏ voi, cỏ cao sản để chủ động nguồn thức ăn, phát triển đàn bò sữa theo hướng tập trung. Đến nay, địa phương đã hình thành khu chăn nuôi rộng khoảng 100 ha với gần 1.600 con bò sữa, sản lượng khoảng 5.500 tấn sữa mỗi năm.
Tận dụng lợi thế quỹ đất bãi rộng, màu mỡ để phát triển vùng nguyên liệu thức ăn tại chỗ giúp người chăn nuôi giảm chi phí đầu vào, duy trì quy mô đàn và nâng cao hiệu quả sản xuất. Với mức lãi ròng ước đạt 2-3 triệu đồng/con/tháng, các hộ có thu nhập khoảng 20-70 triệu đồng/tháng, tùy quy mô chăn nuôi.

Đàn bò sữa của anh Tống Xuân Văn, Khu chăn nuôi bò sữa tập trung Mộc Bắc (phường Duy Tân) luôn được chăm sóc tốt. cho hiệu quả kinh tế cao. Ảnh: BNB
Không chỉ mang lại nguồn thu ổn định, mô hình còn từng bước hình thành chuỗi sản xuất tuần hoàn. Chất thải chăn nuôi được xử lý, tận dụng làm phân hữu cơ cho diện tích trồng cỏ, ngô; phụ phẩm trồng trọt tiếp tục được sử dụng làm thức ăn cho đàn bò. Cùng với đó, các cơ sở chế biến sữa tại địa phương đã phát triển nhiều sản phẩm, trong đó có hơn 10 sản phẩm đạt chứng nhận OCOP từ 3-4 sao. Qua đó, nâng cao giá trị nguồn sữa tươi, khai thác hiệu quả quỹ đất bãi và tạo hướng phát triển nông nghiệp bền vững ven sông Hồng.
Những mô hình trên cho thấy, khai thác đất bãi không nhất thiết phải dựa vào mở rộng diện tích mà quan trọng là lựa chọn được đối tượng sản xuất phù hợp, nâng cao giá trị sản phẩm trên từng đơn vị đất đai. Khi cây trồng được lựa chọn theo lợi thế sinh thái, gắn với nhu cầu thị trường và có định hướng phát triển thương hiệu, vùng đất bãi có thể trở thành không gian sản xuất hàng hóa có sức cạnh tranh.
Khai thác lợi thế mặt nước, mở rộng không gian kinh tế ven sông
Không chỉ phát huy giá trị của diện tích đất canh tác, hệ thống sông ngòi dày đặc còn mở ra dư địa phát triển nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là mô hình nuôi cá lồng trên sông. Đây là hướng sản xuất tận dụng trực tiếp nguồn nước tự nhiên, dòng chảy và điều kiện sinh thái của các dòng sông lớn, góp phần đa dạng hóa sinh kế cho cư dân vùng ven sông.

Phát triển nuôi cá lồng kết hợp với các mô hình trồng trọt, chăn nuôi góp phần đa dạng hóa sinh kế và khai thác hiệu quả tiềm năng vùng đất bãi. Ảnh: BNB
Tại khu vực ven sông Hồng thuộc địa bàn Hà Nam trước đây, nghề nuôi cá lồng đang phát triển với quy mô tương đối lớn. Theo thống kê, khu vực ven sông thuộc các xã Nam Lý, Trần Thương và phường Duy Tiên có gần 600 lồng nuôi cá, sản lượng bình quân đạt khoảng 3.000 - 3.500 tấn mỗi năm. Các đối tượng nuôi khá đa dạng, trong đó có cá lăng, cá chép giòn, rô phi đơn tính. Với chu kỳ nuôi trung bình khoảng 14 tháng, mỗi lồng có thể đạt sản lượng từ 9 - 10 tấn cá thương phẩm.
Điểm đáng chú ý của mô hình này là khả năng tận dụng mặt nước sông để tổ chức sản xuất mà không cần mở rộng diện tích ao nuôi trên đất liền. Chất lượng cá thương phẩm, quy mô đầu tư và khả năng tổ chức nuôi gối vụ tạo điều kiện để người dân duy trì nguồn cung tương đối ổn định. Nếu được tổ chức theo vùng nuôi tập trung, kiểm soát tốt môi trường và có liên kết tiêu thụ, nuôi cá lồng có thể trở thành một hướng phát triển kinh tế quan trọng tại những khu vực có điều kiện mặt nước phù hợp.

Hoạt động cho cá ăn được thực hiện thường xuyên, góp phần kiểm soát tốc độ sinh trưởng và chất lượng thủy sản. Ảnh: BNB
Thực tế, nhiều hộ đã mạnh dạn đầu tư quy mô lớn, chuyển từ phương thức sản xuất nhỏ lẻ sang nuôi các đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, hiệu quả của mô hình không chỉ phụ thuộc vào số lượng lồng bè hay sản lượng thu hoạch mà còn nằm ở khả năng kiểm soát chất lượng nguồn nước, lựa chọn con giống và tổ chức tiêu thụ sản phẩm.
Tại những khu vực có điều kiện mặt nước thuận lợi như vùng giáp sông Đào, sông Đáy thuộc xã Đồng Thịnh, tiềm năng phát triển nuôi cá lồng vẫn còn khá lớn. Song, đây cũng là địa bàn đặt ra yêu cầu cao về kiểm soát môi trường. Nguồn nước chịu tác động từ hoạt động sản xuất, sinh hoạt ở thượng lưu; những thay đổi đột ngột của thời tiết có thể làm suy giảm lượng oxy hòa tan, phát sinh khí độc, ảnh hưởng đến sức khỏe đàn cá. Trong mùa mưa bão, dòng chảy mạnh còn có thể gây đứt neo, hư hỏng lồng bè và thiệt hại về kinh tế.

Mô hình nuôi cá lồng trên sông Hồng của anh Trần Quang Huy mang lại giá trị kinh tế cao. Ảnh: BNB
Bên cạnh rủi ro thiên tai, người nuôi cá còn gặp khó khăn trong tiếp cận vốn đầu tư, bởi tài sản lồng bè trên sông không dễ đáp ứng điều kiện thế chấp vay vốn. Những vấn đề này cho thấy, phát triển thủy sản trên sông cần có quy hoạch vùng nuôi, hệ thống cảnh báo môi trường, hướng dẫn kỹ thuật và cơ chế hỗ trợ phù hợp.
Cùng với đó, việc hình thành chuỗi liên kết từ cung ứng con giống, thức ăn, quy trình chăm sóc đến thu mua, chế biến và tiêu thụ sẽ giúp người nuôi giảm phụ thuộc vào thương lái, hạn chế rủi ro khi thị trường biến động. Đây cũng là điều kiện để nghề nuôi cá lồng chuyển từ phát triển theo kinh nghiệm sang sản xuất hàng hóa có kiểm soát, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh.
Quy hoạch đồng bộ, hướng tới khai thác bền vững
Những kết quả bước đầu từ các mô hình sản xuất cho thấy tiềm năng kinh tế của vùng đất bãi ven sông ở Ninh Bình còn rất lớn. Tuy nhiên, giữa hiệu quả của từng mô hình và khả năng phát triển thành các vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn vẫn còn khoảng cách. Sản xuất tại nhiều khu vực vẫn phân tán, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của từng hộ; việc tích tụ đất đai, ứng dụng công nghệ, liên kết với doanh nghiệp và xây dựng hệ thống tiêu thụ sản phẩm chưa đồng đều.

Vùng trồng húng quế tập trung góp phần đa dạng hóa cây trồng, nâng cao hiệu quả khai thác quỹ đất bãi. Ảnh: BNB
Hạ tầng phục vụ sản xuất ở một số khu vực chưa đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô. Giao thông nội đồng, hệ thống điện, thủy lợi và các công trình phục vụ sơ chế, bảo quản nông sản còn thiếu đồng bộ. Đối với những mô hình cần vốn đầu tư lớn như cây cảnh, cây ăn quả lâu năm hay nuôi cá lồng, khả năng tiếp cận nguồn vốn và duy trì sản xuất trước biến động thị trường cũng là những yếu tố cần được quan tâm.
Một vấn đề quan trọng khác là quản lý, sử dụng đất bãi phải gắn với quy hoạch và yêu cầu bảo đảm an toàn đê điều, hành lang thoát lũ. UBND tỉnh Ninh Bình đã yêu cầu các địa phương rà soát, thống kê, phân loại hiện trạng sử dụng đất bãi bồi ven sông, ven biển; xây dựng phương án quản lý, khai thác đúng quy định, đồng thời xử lý những trường hợp lấn chiếm, xây dựng công trình trái phép hoặc sử dụng đất không đúng mục đích. Tỉnh cũng yêu cầu tăng cường đo đạc, lập bản đồ địa chính và hoàn thiện cơ sở dữ liệu phục vụ công tác quản lý đất đai.

Đàn bò sữa được chăm sóc theo quy trình kỹ thuật, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sữa tươi. Ảnh: BNB
Đây là yêu cầu cần thiết để hài hòa giữa mục tiêu phát triển kinh tế và bảo vệ không gian tự nhiên. Đất bãi ven sông vừa là nguồn lực sản xuất, vừa có vai trò quan trọng trong điều tiết dòng chảy, tiêu thoát lũ và duy trì hệ sinh thái. Vì vậy, việc lựa chọn mô hình sản xuất phải căn cứ vào đặc điểm địa hình, điều kiện thủy văn, mức độ an toàn và quy định pháp luật; không chạy theo lợi ích kinh tế trước mắt mà làm ảnh hưởng đến hành lang bảo vệ sông, đê điều và môi trường.
Về lâu dài, Ninh Bình cần tiếp tục rà soát, phân vùng các khu vực có lợi thế để phát triển những mô hình sản xuất phù hợp. Những vùng có điều kiện thổ nhưỡng tốt có thể ưu tiên cây trồng đặc sản, cây cảnh, hoa và cây ăn quả; khu vực có mặt nước thuận lợi cần phát triển thủy sản theo quy hoạch, kiểm soát chặt chất lượng môi trường. Cùng với đó, cần khuyến khích tích tụ đất đai, hình thành hợp tác xã, tổ hợp tác và thu hút doanh nghiệp tham gia vào chuỗi sản xuất, chế biến, tiêu thụ.
Ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong quản lý vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, dự báo thị trường và kiểm soát chất lượng sản phẩm cũng cần được đẩy mạnh. Đối với các mô hình nông nghiệp, thủy sản, việc tận dụng phụ phẩm, giảm sử dụng vật tư đầu vào gây ô nhiễm, tăng cường quy trình sản xuất thân thiện môi trường sẽ góp phần nâng cao hiệu quả và khả năng phát triển lâu dài.
Một hướng đi giàu tiềm năng khác là kết hợp sản xuất nông nghiệp với du lịch sinh thái, trải nghiệm tại các vùng ven sông có cảnh quan đẹp và nghề truyền thống đặc sắc. Những vườn cây cảnh, vùng trồng cây đặc sản, không gian làng nghề và hoạt động trải nghiệm sản xuất có thể trở thành sản phẩm dịch vụ bổ trợ, góp phần đa dạng hóa nguồn thu cho người dân. Tuy nhiên, hướng phát triển này cần được tổ chức có quy hoạch, bảo đảm không làm ảnh hưởng đến môi trường và chức năng tự nhiên của vùng bãi.

Những vùng sản xuất xanh, chuyên canh trên đất bãi ven sông Hồng đang góp phần đánh thức tiềm năng, nâng cao giá trị kinh tế nông nghiệp ở Ninh Bình. Ảnh: BNB
Từ những cánh đồng hoa, vườn cây cảnh, vùng cây ăn quả đặc sản đến những lồng cá nối dài trên mặt sông, các mô hình sản xuất đang từng bước tạo nên diện mạo kinh tế mới cho vùng đất bãi Ninh Bình. Khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên này không chỉ là câu chuyện nâng cao thu nhập trước mắt mà còn là quá trình tổ chức lại không gian sản xuất, tạo sinh kế ổn định và bảo vệ môi trường sinh thái. Khi được quy hoạch đồng bộ, đầu tư hạ tầng và gắn kết chặt chẽ với thị trường, những vùng đất phù sa ven sông sẽ tiếp tục trở thành động lực quan trọng, đóng góp vào mục tiêu phát triển nông nghiệp xanh, hiện đại và bền vững của tỉnh.
Bình luận (0)