Ứng dụng công nghệ hiện đại đang từng bước thay đổi phương thức chăn nuôi, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm tại Ninh Bình. Ảnh: Dương Duy
Công nghệ thay đổi phương thức chăn nuôi
Từ những chuồng nuôi được kiểm soát tự động đến hệ thống giám sát đàn vật nuôi từ xa, khoa học công nghệ đang từng bước thay đổi phương thức sản xuất của ngành chăn nuôi Ninh Bình. Không chỉ giúp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, các giải pháp công nghệ còn góp phần kiểm soát dịch bệnh, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và sử dụng hiệu quả nguồn lực. Đây được xem là một trong những hướng đi quan trọng để ngành chăn nuôi phát huy tiềm năng, đóng góp vào mục tiêu duy trì tăng trưởng kinh tế hai con số của tỉnh trong năm 2026.
Định hướng này cũng gắn với yêu cầu triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 1/4/2025 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW. Trong lĩnh vực nông nghiệp, việc đưa các chủ trương này vào thực tiễn đòi hỏi chuyển mạnh từ phương thức sản xuất truyền thống sang ứng dụng công nghệ, khai thác dữ liệu số, đổi mới quy trình quản lý và nâng cao giá trị sản phẩm. Với Ninh Bình, chăn nuôi là một trong những lĩnh vực có nhiều tiềm năng để cụ thể hóa các định hướng đó.

Trang trại chăn nuôi thông minh thuộc dự án “Thiết lập trang trại thông minh và nâng cao chuỗi giá trị chăn nuôi lợn tại Ninh Bình, Việt Nam” do Chính phủ Hàn Quốc viện trợ không hoàn lại. Ảnh: Dương Duy

Trạm Nghiên cứu và phát triển giống lợn hạt nhân Tam Điệp khánh thành đưa vào hoạt động là nơi lưu giữ các giống gốc và các dòng lợn ngoại có gen quý được chăm sóc bởi nguồn nhân lực phát triển và có kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh theo chuỗi. Ảnh: Dương Duy
Tại Trạm Nghiên cứu và Phát triển giống lợn hạt nhân Tam Điệp, thuộc Trung tâm Nghiên cứu lợn Thụy Phương, mô hình chăn nuôi lợn thông minh là một minh chứng rõ nét cho hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ vào sản xuất. Thay vì phụ thuộc chủ yếu vào kinh nghiệm và lao động thủ công, nhiều công đoạn trong quy trình chăn nuôi đã được tự động hóa, từ kiểm soát môi trường chuồng nuôi đến cung cấp thức ăn, nước uống và giám sát đàn lợn.
Hệ thống ứng dụng công nghệ Internet vạn vật (IoT), cho phép tự động kiểm soát các thông số môi trường như nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió; đồng thời theo dõi hoạt động của đàn vật nuôi 24/7 từ xa. Thông qua hệ thống giám sát, người quản lý có thể nắm bắt tình trạng chuồng nuôi, kịp thời điều chỉnh các điều kiện cần thiết, góp phần tạo môi trường thuận lợi cho vật nuôi sinh trưởng, phát triển.
Một điểm đáng chú ý là quy trình xử lý chất thải được tích hợp trong hệ thống vận hành, góp phần hạn chế mùi hôi và nguy cơ ô nhiễm môi trường. Nhờ đó, công nghệ không chỉ phục vụ mục tiêu tăng năng suất mà còn hướng đến yêu cầu phát triển chăn nuôi an toàn sinh học, thân thiện với môi trường.Mô hình được triển khai trong khuôn khổ dự án “Thiết lập trang trại thông minh và nâng cao chuỗi giá trị chăn nuôi lợn tại Ninh Bình, Việt Nam”, do Chính phủ Hàn Quốc viện trợ không hoàn lại với kinh phí hơn 3 triệu USD, thực hiện trong giai đoạn 2022–2025. Theo năng lực được báo cáo, cơ sở có khả năng xuất bán khoảng 4.500–6.000 con lợn giống sinh sản và 18.000–20.000 con lợn thương phẩm mỗi năm.

Hệ thống cảm biến tự động kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm và tốc độ gió, tạo môi trường thuận lợi cho đàn lợn sinh trưởng. Ảnh: Dương Duy
Từ mô hình này, Ninh Bình có thêm cơ sở thực tiễn để nghiên cứu, đánh giá và lựa chọn những giải pháp chăn nuôi thông minh phù hợp với điều kiện sản xuất của địa phương. Việc ứng dụng công nghệ trong quản lý đàn, kiểm soát môi trường và sử dụng nguồn lực cho thấy hướng chuyển đổi từ chăn nuôi dựa nhiều vào kinh nghiệm sang sản xuất có quy trình, dữ liệu và khả năng kiểm soát tốt hơn.
Phát huy lợi thế, hình thành chuỗi giá trị hiện đại
Sau hợp nhất, Ninh Bình có quy mô chăn nuôi lớn, với khoảng 1,15 triệu con lợn, 27 triệu con gia cầm, 96 nghìn con trâu, bò và trên 40 nghìn con dê. Giá trị sản xuất chăn nuôi hằng năm ước đạt gần 15.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 35% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Trong đó, chăn nuôi lợn là ngành hàng chủ lực. Năm 2025, sản lượng thịt lợn đạt trên 276,5 nghìn tấn, chiếm 72% tổng sản lượng sản phẩm chăn nuôi và trên 53% giá trị sản xuất của lĩnh vực này.

Công tác chăm sóc, quản lý đàn lợn giống được thực hiện theo quy trình kỹ thuật, góp phần nâng cao chất lượng nguồn con giống. Ảnh: Dương Duy
Quy mô sản xuất lớn đặt ra yêu cầu phải đổi mới đồng bộ từ khâu con giống, chăn nuôi thương phẩm đến giết mổ, chế biến và tiêu thụ. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có các cơ sở nuôi giữ đàn lợn giống gốc, cơ sở sản xuất giống bố mẹ và hệ thống trang trại với nhiều quy mô khác nhau. Đáng chú ý, trại lợn giống bố mẹ siêu nạc của Công ty TNHH lợn giống DABACO Hà Nam tại xã Vĩnh Trụ có quy mô thường xuyên 3.200 lợn nái, 60 lợn đực giống, 1.284 lợn nái hậu bị và khả năng cung ứng khoảng 90.000 con lợn giống siêu nạc chất lượng cao mỗi năm.
Toàn tỉnh hiện có khoảng 3.244 trang trại chăn nuôi, gồm 31 trang trại quy mô lớn, 761 trang trại quy mô vừa và 2.452 trang trại quy mô nhỏ. Riêng chăn nuôi lợn có 28 trang trại quy mô lớn, 465 trang trại quy mô vừa, 1.583 trang trại quy mô nhỏ và gần 40.000 cơ sở chăn nuôi nông hộ. Một số cơ sở đã đầu tư chuồng kín, cảm biến kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió, hệ thống cung cấp thức ăn, nước uống tự động và camera giám sát từ xa.
Ông Nguyễn Văn Thục, Giám đốc HTX chăn nuôi đa dạng sinh học Trực Thái, xã Minh Thái cho biết, hiện nay gia đình đang nuôi hơn 300 con lợn thịt, ngoài ra còn của các xã viên, tổng đàn có hàng nghìn con lợn. Một tháng cung cấp ra thị trường khoảng 15 tấn thịt lợn. Mô hình chăn nuôi lợn của HTX theo hướng hữu cơ, thức ăn chăn nuôi gồm đạm cá thủy phân, đậu tương rang, ngô và cám gạo kết hợp với thảo dược.
Ông Nguyễn Văn Thục, Giám đốc HTX chăn nuôi đa dạng sinh học Trực Thái, tỉnh Ninh Bình

Ứng dụng công nghệ trong chăn nuôi giúp các trang trại kiểm soát tốt hơn điều kiện sinh trưởng, phát triển của đàn vật nuôi. Ảnh: Dương Duy
Ở khâu giết mổ, chế biến, việc ứng dụng dây chuyền công nghệ hiện đại cũng đang tạo thêm điều kiện để nâng cao chất lượng sản phẩm. Công ty TNHH Meat Deli HN tại phường Lê Hồ là một trong những cơ sở giết mổ tập trung, với công suất bình quân được báo cáo khoảng 500–700 con lợn mỗi ngày. Các cơ sở giết mổ, chế biến tập trung góp phần tăng cường kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm, đồng thời tạo tiền đề phát triển sản phẩm sơ chế, chế biến và tổ chức phân phối theo quy trình kiểm soát chất lượng.

Dây chuyền giết mổ lợn khép kín, hiện đại theo tiêu chuẩn 3F tại Công ty TNHH Meat Deli HN (phường Lê Hồ). Ảnh: BNB
Tuy nhiên, để lợi thế về quy mô thực sự chuyển hóa thành giá trị gia tăng, yêu cầu quan trọng là phải kết nối chặt chẽ các khâu trong chuỗi sản xuất. Từ cơ sở cung cấp giống, trang trại, hợp tác xã đến cơ sở giết mổ, chế biến và đơn vị phân phối cần có sự liên kết thực chất, bảo đảm nguồn cung ổn định, chất lượng đồng đều và khả năng truy xuất nguồn gốc.
Cùng với đó, việc áp dụng mã QR, mã vạch và số hóa thông tin sản phẩm sẽ giúp minh bạch quá trình sản xuất, tạo niềm tin cho người tiêu dùng. Khi doanh nghiệp giữ vai trò dẫn dắt, người chăn nuôi tham gia vào quy trình sản xuất thống nhất, chuỗi giá trị thịt lợn sẽ có thêm điều kiện nâng cao sức cạnh tranh, hạn chế những khâu trung gian và gia tăng giá trị sản phẩm.
Chuyển đổi số, tháo gỡ điểm nghẽn để tạo dư địa tăng trưởng
Không chỉ ứng dụng tại các trang trại, khoa học công nghệ và chuyển đổi số còn được Ninh Bình từng bước đưa vào công tác quản lý nhà nước về chăn nuôi. Tỉnh đang cập nhật dữ liệu về cơ sở chăn nuôi, vùng chăn nuôi, tổng đàn trên hệ thống cơ sở dữ liệu ngành chăn nuôi do Cục Chăn nuôi và Thú y, Bộ Nông nghiệp và Môi trường quản lý; đồng thời sử dụng Hệ thống quản lý thông tin dịch bệnh động vật trực tuyến (VAHIS) phục vụ theo dõi, quản lý dịch bệnh.

Quy trình xử lý chất thải được tích hợp trong mô hình chăn nuôi thông minh, góp phần hạn chế mùi hôi và ô nhiễm môi trường. Ảnh: Dương Duy
Việc xây dựng và khai thác dữ liệu số có ý nghĩa quan trọng trong thống kê, dự báo sản xuất, giám sát biến động đàn vật nuôi và cảnh báo nguy cơ dịch bệnh. Một số sản phẩm chăn nuôi an toàn, sản phẩm OCOP trên địa bàn cũng đã áp dụng tem QR, mã vạch để truy xuất nguồn gốc. Đây là những bước đi ban đầu hướng tới quản trị chuỗi giá trị dựa trên dữ liệu, giúp thông tin sản phẩm được minh bạch hơn từ khâu sản xuất đến tiêu thụ.

Công nghệ IoT cho phép theo dõi các thông số chuồng nuôi và tình trạng đàn vật nuôi liên tục, kể cả từ xa. Ảnh: Dương Duy
Đây cũng là cách cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 71/NQ-CP trong thực tiễn sản xuất: lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo làm động lực, lấy chuyển đổi số làm phương thức nâng cao hiệu quả quản lý và tổ chức sản xuất. Đối với ngành chăn nuôi, trọng tâm không chỉ là đầu tư thiết bị hiện đại mà còn phải hình thành được hệ thống dữ liệu có khả năng kết nối, phục vụ dự báo, kiểm soát dịch bệnh, truy xuất nguồn gốc và quản trị toàn bộ chuỗi cung ứng.
Dù vậy, quá trình chuyển đổi vẫn còn những khó khăn. Chăn nuôi nông hộ, nhỏ lẻ còn chiếm tỷ lệ lớn; một số trang trại được mở rộng, cơi nới nên cơ sở vật chất thiếu đồng bộ. Chi phí đầu tư chuồng kín, thiết bị tự động, cảm biến và hệ thống xử lý chất thải tương đối cao, khiến nhiều cơ sở quy mô vừa và nhỏ khó tiếp cận công nghệ tiên tiến. Việc kê khai, cập nhật dữ liệu lên hệ thống chuyên ngành cũng chưa thuận lợi đối với một bộ phận người chăn nuôi do quy mô sản xuất phân tán và kỹ năng số còn hạn chế.

Phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại tập trung, ứng dụng công nghệ là giải pháp nâng cao giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi Ninh Bình. Ảnh: Dương Duy
Bên cạnh đó, nguy cơ dịch bệnh trên đàn vật nuôi, yêu cầu bảo vệ môi trường và biến động giá thức ăn, thuốc thú y, vắc xin tiếp tục tác động đến hiệu quả sản xuất. Một số quy định về khoảng cách an toàn trong chăn nuôi cũng được địa phương phản ánh còn khó áp dụng đối với các cơ sở quy mô nhỏ nằm xen kẽ trong khu dân cư và những trang trại quy mô lớn đã đầu tư, xây dựng hợp pháp trước đó. Những vấn đề này cần được rà soát, nghiên cứu giải pháp phù hợp, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu bảo vệ môi trường, quyền lợi của người dân và động lực đầu tư phát triển sản xuất.
Để tháo gỡ điểm nghẽn, Ninh Bình định hướng tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị, lấy doanh nghiệp làm trung tâm liên kết; ưu tiên ứng dụng IoT, cảm biến, hệ thống giám sát tự động trong quản lý môi trường chuồng nuôi, thức ăn, nước uống và tình trạng đàn vật nuôi. Tỉnh cũng đặt mục tiêu từng bước nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo, camera thông minh hỗ trợ phát hiện sớm dấu hiệu bất thường; đẩy mạnh công nghệ sinh học trong chọn tạo, nhân giống và sử dụng các chế phẩm sinh học phù hợp.

Hệ thống chuồng nuôi khép kín góp phần hạn chế tác động của môi trường bên ngoài, nâng cao hiệu quả phòng, chống dịch bệnh. Ảnh: Dương Duy
Cùng với đó là chuẩn hóa, cập nhật dữ liệu cơ sở chăn nuôi, tổng đàn, vùng chăn nuôi và tình hình dịch bệnh; tăng cường ứng dụng công nghệ chẩn đoán, cảnh báo sớm, kiểm soát vận chuyển, giết mổ và vệ sinh thú y. Phát triển chăn nuôi tuần hoàn, tận dụng phụ phẩm sau xử lý làm phân bón hữu cơ, kết nối với sản xuất trồng trọt cũng là giải pháp được đặt ra nhằm giảm ô nhiễm, tiết kiệm tài nguyên và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Trong hai tháng cuối năm 2026 và những năm tiếp theo, duy trì đà tăng trưởng hai con số đòi hỏi Ninh Bình phải khai thác tốt hơn tiềm năng của từng ngành, lĩnh vực. Với quy mô đàn vật nuôi lớn và nền tảng sản xuất đã hình thành, chăn nuôi có nhiều dư địa để đóng góp vào mục tiêu chung. Tuy nhiên, dư địa ấy chỉ có thể chuyển hóa thành kết quả bền vững khi khoa học công nghệ được ứng dụng rộng rãi, dữ liệu được khai thác hiệu quả và các mắt xích trong chuỗi giá trị được kết nối chặt chẽ.

Phát triển chăn nuôi góp phần giữ nhịp tăng trưởng 2 con số trong những tháng cuối năm. Ảnh: Dương Duy
Từ những trang trại thông minh đến hệ thống quản lý số, hướng đi của ngành chăn nuôi Ninh Bình không chỉ là tăng quy mô đàn vật nuôi, mà là nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Việc cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, Chính phủ về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số bằng những giải pháp sát thực tiễn sẽ tạo nền tảng để ngành chăn nuôi phát triển hiện đại, an toàn, bền vững, đóng góp tích cực vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số của tỉnh trong năm 2026.
Bình luận (0)