Nón lá Làng Chuông: Di sản trăm năm nỗ lực chuyển mình trong thời đại mới

VTV.vn - Trải qua hàng trăm năm, nghề làm nón Làng Chuông vẫn được gìn giữ và đang từng bước đổi mới mẫu mã, cách bán hàng để thích ứng với cuộc sống hiện đại.

Nằm cách trung tâm Hà Nội khoảng 30km, Làng Chuông (thuộc xã Thanh Oai, Hà Nội) từ lâu đã nức tiếng gần xa với nghề làm nón lá truyền thống. Nhiều người khi đặt chân đến đây vẫn thường thắc mắc về nguồn gốc tên gọi "Làng Chuông". Theo lời truyền miệng của các bậc cao niên, cái tên Nôm mộc mạc này bắt nguồn từ hai giai thoại. Thứ nhất, tương truyền xưa kia trong làng có một quả chuông đồng rất lớn, mỗi khi gióng lên, tiếng chuông ngân vang xa khắp cả một vùng. Khách thập phương và người dân lân cận vì thế quen gọi nơi đây là "làng có quả chuông lớn", rồi dần gọi tắt thành Làng Chuông. Cũng có một cách giải thích thứ hai cho tên gọi này dựa trên phong thủy dân gian cho rằng thế đất cổ của ngôi làng có hình dáng khum khum, bo tròn giống hệt như một chiếc chuông úp.

Về mặt giấy tờ hành chính, sử sách ghi lại địa danh này xưa kia có tên chữ là Trang Thì Trung, sau đổi tên địa giới hành chính thành xã Phương Trung. Thế nhưng, dù trải qua bao thăng trầm, người dân quanh vùng vẫn luôn giữ thói quen gọi nơi đây bằng cái tên Làng Chuông thân thuộc.

Nón lá Làng Chuông: Di sản trăm năm nỗ lực chuyển mình trong thời đại mới- Ảnh 1.

Làng Chuông là làng nghề làm nón truyền thống lâu đời của Việt Nam. Ảnh: Quốc Đạt.

Nghề làm nón tại đây đã trải qua hàng trăm năm lịch sử, gắn bó mật thiết với đời sống văn hóa của người dân nơi đây... Vào thời kỳ hưng thịnh nhất, Làng Chuông không chỉ làm ra những chiếc nón lá phục vụ người lao động đồng áng, mà còn chế tác nhiều dòng nón cao cấp như nón quai thao, nón chóp dứa, nón dấu. Đặc biệt, nhờ kỹ nghệ tinh xảo, nón Làng Chuông từng vinh dự được chọn làm sản vật cúng tiến cho các bậc hoàng hậu và công chúa ở cung đình. Phải từ khoảng năm 1940 trở đi, làng mới dần chuyển sang sản xuất chủ yếu loại nón lá hình chóp quen thuộc như hiện nay.

Để làm ra một chiếc nón lá đạt chuẩn với 16 vòng nón đặc trưng, người thợ phải trải qua một quy trình thủ công vô cùng tỉ mỉ. Nguyên liệu làm nón không có sẵn ở địa phương mà phải nhập lá lụi từ tận vùng núi xa. Lá tươi mua về phải trải qua công đoạn vò trong cát cho mềm, phơi qua vài đợt nắng to cho đến khi chuyển sang màu bạc trắng, rồi tiếp tục được hơ phẳng trên lửa nóng.

Bộ khung nón được định hình bởi 16 chiếc vòng làm từ tre, nứa vót mảnh và tròn đều tăm tắp. Cuối cùng là công đoạn khâu nón. Người thợ khéo léo xếp các lớp lá, thường là hai lớp lá lụi kẹp một lớp tre ở giữa lên khuôn. Từng mũi kim, sợi cước xuyên qua các lớp lá phải thật đều, thật khít, giấu kín chân kim và tuyệt đối không được làm rách bề mặt lá. Quy trình này không chỉ đòi hỏi kỹ thuật lành nghề mà còn cho thấy được mồ hôi và tâm huyết của những người thợ ở trong từng thành phẩm.

Nón lá Làng Chuông: Di sản trăm năm nỗ lực chuyển mình trong thời đại mới- Ảnh 2.

Những chiếc nón lá được sản xuất tại đây có chất lượng rất cao, đa dạng về mẫu mã. Ảnh: Quốc Đạt

Tuy nhiên, trong dòng chảy của thời đại mới, khi những chiếc nón lá dần vắng bóng trong đời sống sinh hoạt thường nhật, một câu hỏi lớn được đặt ra: Làng nghề thủ công hàng trăm năm tuổi này sẽ đi về đâu?

Đi tìm câu trả lời cho tương lai của làng nghề, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với một nghệ nhân lâu năm tại Làng Chuông, bà Tạ Thu Hương. Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất truyền thống, bắt đầu cầm kim khâu nón từ khi mới 5-6 tuổi, đến nay, vị nghệ nhân này đã có hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghề.

Nón lá Làng Chuông: Di sản trăm năm nỗ lực chuyển mình trong thời đại mới- Ảnh 3.

Nghệ nhân Tạ Thu Hương, người đã gắn bó với nghề làm nón lá hơn nửa thế kỷ. Ảnh: Quốc Đạt.

Chia sẻ về nỗi lo mai một của nghề làm nón, trái với suy nghĩ thông thường về sự bi quan, nghệ nhân lại mang đến một góc nhìn đầy thực tế và hiện đại. Theo bà, sự mai một không đến từ việc người ta quay lưng với truyền thống, mà đến từ sự bảo thủ trong cách làm.

"Nhiều lúc tôi nghĩ, nếu cái nghề mà không phát triển, không cải tiến mẫu mã đa dạng hóa thì nó sẽ mang một cái truyền thống mãi. Nó sẽ bị mai một, bị lạc hậu, người làm không đủ tiền công thu nhập thì sẽ bỏ nghề," bà Tạ Thu Hương chia sẻ.

Chính vì lẽ đó, thay vì ngồi chờ đợi sự ủng hộ, những người thợ lâu năm đã chủ động tự cứu lấy nghề. "Tôi luôn luôn sáng tạo và thiết kế ra nhiều mẫu mã mới đa dạng để cho người làm nón có nhiều việc làm, người dân cũng có nhiều lựa chọn hơn khi muốn mua nón. Các người thợ và các nghệ nhân có việc làm ổn định thì nghề sẽ không mai một."

Đặc biệt, trước tư duy "cách tân" sản phẩm để phù hợp hơn với gu thẩm mỹ hiện đại, điều mà nhiều người lo ngại sẽ làm mất đi giá trị thủ công cốt lõi, vị nghệ nhân lại tỏ ra vô cùng cởi mở và ủng hộ. Bà nhìn nhận thế hệ trẻ hiện nay với sự nhạy bén của thời đại 4.0 đang mang lại một luồng sinh khí mới cho Làng Chuông.

"Các bạn trẻ bây giờ là thời đại 4.0, các bạn ấy không chỉ biết làm nón mà còn biết bán hàng online, bán hàng trên chuyển đổi số. Điều đó rất tốt cho làng nghề," bà Hương khẳng định.

Hơn thế nữa, bài toán bảo tồn làng nghề giờ đây không chỉ dừng lại ở việc sản xuất và bán một chiếc nón. Theo định hướng mà bà Hương đúc kết sau hàng chục năm thăng trầm, Làng Chuông cần hướng tới việc kết hợp giá trị sản phẩm với trải nghiệm văn hóa: "Để làng nghề phát triển, không phải chỉ bán một sản phẩm mà phải thu hút được khách du lịch cộng đồng về tham quan, trải nghiệm. Làng nghề phát triển thì dân mới giàu, xã hội mới an sinh."

Nón lá Làng Chuông: Di sản trăm năm nỗ lực chuyển mình trong thời đại mới- Ảnh 4.

Sự tồn tại vững chắc của Làng Chuông hôm nay minh chứng cho một quy luật tất yếu: Bảo tồn di sản không đồng nghĩa với việc giữ khư khư nếp cũ. Những giá trị truyền thống chỉ thực sự sống động và bền vững khi chúng biết cách chuyển mình, hòa nhịp cùng sự phát triển của thời đại và tạo ra được sinh kế vững chắc cho chính những người đang ngày đêm gìn giữ chúng.

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bình luận không đăng nhập

Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.