Từ đầu ra bấp bênh đến sinh kế ổn định từ cây chè
Tại xã Hồng Thái (Tuyên Quang), cây chè từ lâu đã gắn với đời sống của nhiều hộ dân. Thế nhưng, đã có thời điểm những đồi chè dù vẫn cho thu hoạch nhưng người dân lại không mặn mà hái, bởi sản phẩm làm ra không biết bán cho ai.
Đầu ra phụ thuộc vào thương lái, có lúc chè hái về không tìm được người mua, khiến hiệu quả kinh tế chưa tương xứng với công sức chăm sóc.
Bà Triệu Thị Chiêu, xã Hồng Thái chia sẻ, trước đây việc trồng và thu hái chè gặp nhiều khó khăn do không có người thu mua, đầu ra không ổn định. Gia đình làm ra chè nhưng không bán được nên có thời điểm phải bỏ chè trong vài năm. Những năm gần đây, từ khi có Hợp tác xã chè tại địa phương, bà con mới có nơi tiêu thụ sản phẩm và có thêm nguồn thu nhập.
"Từ khi có xưởng chè, bà con được hưởng lợi rất nhiều. Như gia đình tôi, nếu thu hái đều thì mỗi năm có thể thu được khoảng 70-80 triệu đồng", bà Chiêu chia sẻ.

Bà Triệu Thị Chiêu, xã Hồng Thái (Tuyên Quang). (ảnh: Lô Giang)
Theo bà Chiêu, việc thu mua được duy trì thường xuyên, không phân biệt số lượng nhiều hay ít. Người dân dù chỉ hái được vài cân chè cũng được thu mua. Có đầu ra ổn định, bà con yên tâm hơn trong việc tập trung chăm sóc và thu hái chè.
"Làm chè cũng tương đối vất vả, phải chăm sóc quanh năm, khi cỏ mọc nhiều lại phải phát cỏ. Nhưng đối với người dân ở miền núi như chúng tôi, có cây chè để làm như thế này là ổn định hơn. Nếu đi làm thuê thì mỗi ngày chỉ được khoảng 300.000 đồng, trong khi làm chè có khi một buổi cũng được khoảng 300.000 đồng", bà Chiêu cho biết.
Không chỉ gia đình bà Chiêu, nhiều hộ trồng chè tại Hồng Thái cũng cảm nhận rõ sự thay đổi khi sản phẩm có nơi bao tiêu.
Ông Triệu Văn Thanh, xã Hồng Thái cho biết, trước đây gia đình vẫn chăm sóc chè nhưng đầu ra khá bấp bênh, có lúc bán được, có lúc không. Từ khi có xưởng chè của Hợp tác xã Sơn Trà ở gần, khoảng từ năm 2018 đến nay, việc tiêu thụ thuận lợi hơn cho người dân trong thôn.
"Hợp tác xã bao tiêu sản phẩm nên dù bà con hái được ít hay nhiều đều thu mua. Kể cả gia đình chỉ hái được một cân chè, mang ra hợp tác xã vẫn thu mua. Hợp tác xã thu mua cả ba loại chè, từ loại một, loại hai đến loại ba", ông Thanh chia sẻ.

Ông Triệu Văn Thanh, xã Hồng Thái, tỉnh Tuyên Quang. (ảnh: Lô Giang)
Việc có đầu mối bao tiêu ngay tại địa phương không chỉ giải quyết bài toán đầu ra mà còn giúp người dân giảm thời gian, chi phí vận chuyển. Theo ông Thanh, trước đây gia đình chủ yếu làm ruộng, làm nương. So với trồng ngô, trồng lúa, cây chè mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Dù phải đầu tư công chăm sóc nhưng chè có thể cho thu hoạch một đến hai lần mỗi tháng, tạo nguồn thu thường xuyên cho gia đình.
Sự thay đổi thể hiện rõ qua thu nhập của các hộ trồng chè. Ông Thanh cho hay, khoảng năm 2015-2016, khi chưa có hợp tác xã và xưởng chè ở gần, mỗi tháng gia đình hái chè khoảng một đến hai lần, thu nhập chỉ vài trăm nghìn đồng.
"Bây giờ, mỗi tháng gia đình có thể thu được khoảng 6-8 triệu đồng, có tháng gần chục triệu đồng. So với trước đây, mức thu nhập chênh lệch rất nhiều. Không chỉ gia đình tôi mà nhiều gia đình có chè đều thuận lợi hơn vì đã có nơi bao tiêu sản phẩm", ông Thanh cho biết.
Bà Chiêu cũng cho rằng nguồn thu từ chè đã góp phần giúp cuộc sống gia đình ổn định hơn so với trước.
"Ở đây, nếu làm chè thì mỗi người có thể thu nhập ít nhất khoảng 5 triệu đồng/tháng. Như tôi làm một mình, nếu hái đều thì mỗi tháng cũng được khoảng 5-6 triệu đồng. So với điều kiện ở miền núi thì mức thu nhập như vậy là tương đối ổn định", bà Chiêu chia sẻ.
Đằng sau sự thay đổi về đầu ra và thu nhập của những hộ dân như gia đình bà Chiêu, ông Thanh là quá trình hình thành, phát triển của một đầu mối sản xuất, chế biến chè ngay tại địa phương - Hợp tác xã Sơn Trà.

Xưởng sản xuất chè của Hợp tác xã Sơn Trà. (ảnh: Lô Giang)
Từ chảo gang đến công nghệ đốt gas
Câu chuyện của Hợp tác xã Sơn Trà bắt đầu từ những cây chè Shan tuyết từng mọc tự nhiên trên vùng đất Hồng Thái.
Ông Đặng Ngọc Phố, Giám đốc Hợp tác xã Sơn Trà nhớ lại, khoảng những năm 2012-2013, nhận thấy người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến nông sản sạch, ông bắt đầu nghĩ đến việc khai thác giá trị những cây chè Shan tuyết tại quê hương. Trước đó, nhiều cây chè gần như bị bỏ hoang, người dân chủ yếu hái về sử dụng trong gia đình.
Năm 2013, ông Phố thành lập tổ hợp tác với khoảng 6-7 thành viên, bắt đầu sản xuất, chế biến chè. Nhưng con đường biến những búp chè trên núi thành sản phẩm hàng hóa không dễ dàng.
Những năm đầu, kinh nghiệm còn ít, chất lượng sản phẩm chưa cao, đầu ra khó khăn. Tổ hợp tác vừa sản xuất, vừa tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm tại những vùng chè như Thái Nguyên, Hà Giang (cũ), Yên Bái (cũ).
Đến năm 2018, khi chất lượng sản phẩm dần ổn định, tổ hợp tác mới phát triển thành Hợp tác xã Sơn Trà.
Cùng với quá trình phát triển của hợp tác xã, phương thức chế biến chè cũng từng bước thay đổi. Từ những công đoạn phụ thuộc nhiều vào sức người, máy móc và công nghệ bắt đầu được đưa vào sản xuất.
"Ngày xưa, các cụ chỉ dùng chảo gang để sao chè bằng tay. Một, hai người mỗi ngày cũng chỉ làm được khoảng vài cân đến 10 kg chè, không thể thành hàng hóa với số lượng lớn", ông Phố cho biết.

Ông Đặng Ngọc Phố (đứng giữa), Giám đốc Hợp tác xã Sơn Trà. (ảnh: Lô Giang)
Khi thành lập tổ hợp tác, ông bắt đầu sử dụng những tôn quay, đốt bằng củi để chế biến. Sản lượng tăng nhưng một vấn đề khác xuất hiện, chất lượng giữa các mẻ chè không đồng đều, quá trình sản xuất còn phụ thuộc vào nhiên liệu và nhiều yếu tố khác.
Năm 2019, Hợp tác xã Sơn Trà mạnh dạn đầu tư công nghệ đốt gas. Ban đầu, nguồn lực hạn chế nên HTX chỉ mua một máy để thử nghiệm. Khi nhận thấy chất lượng chè ổn định hơn, đơn vị tiếp tục đầu tư và vài năm trở lại đây đã chuyển gần như toàn bộ sang công nghệ này.

Công nghệ đã giúp Hợp tác xã Sơn Trà nâng năng suất, ổn định chất lượng sản phẩm. (ảnh: Lô Giang)
Theo ông Phố, nếu sử dụng củi, mẻ chè trước và mẻ sau có thể khác nhau. Với công nghệ đốt gas, chất lượng giữa các mẻ đồng đều hơn, trong khi năng suất có thể tăng gấp 3-4 lần.
Sự thay đổi về công nghệ không chỉ nằm trong xưởng chế biến mà còn tác động trực tiếp đến những hộ dân trồng chè.
Trước đây, khả năng chế biến hạn chế khiến mỗi ngày HTX chỉ có thể thu mua khoảng 100-200 kg chè tươi, có thời điểm khoảng 300 kg. Sau khi thay đổi công nghệ, có ngày đơn vị có thể chế biến tới cả tấn chè, qua đó tăng khả năng thu mua nguyên liệu cho người dân.
Giá thu mua cũng thay đổi theo giá trị sản phẩm. Theo ông Phố, trước đây HTX thu mua chè tươi khoảng 10.000 đồng/kg; hiện mức giá trung bình dao động từ 25.000-70.000 đồng/kg.

Năng lực chế biến tăng, sản phẩm ổn định hơn, nhưng làm ra chè tốt mới chỉ giải quyết được một phần bài toán. Câu hỏi tiếp theo đối với HTX là làm thế nào đưa sản phẩm đến được nhiều người tiêu dùng hơn.
Từ chỗ đi tiếp thị trực tiếp, Sơn Trà bắt đầu sử dụng Zalo, Facebook rồi từng bước đưa sản phẩm lên các sàn thương mại điện tử. Nếu trước đây khách hàng chủ yếu ở trong tỉnh hoặc những nơi HTX trực tiếp tiếp thị, nay sản phẩm có thể tiếp cận người tiêu dùng từ nhiều tỉnh, thành.
Theo ông Phố, mỗi ngày HTX đều có người trực xử lý đơn hàng. Đơn vị cũng đang tính tới việc xây dựng đội ngũ marketing trên nền tảng số để tiếp tục mở rộng thị trường.
Chính quyền đồng hành, đưa khoa học công nghệ vào sản xuất
Những thay đổi tại Hợp tác xã Sơn Trà cũng nằm trong quá trình địa phương thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào sản xuất nông nghiệp.
Ông Lê Văn Tú, Chủ tịch UBND xã Hồng Thái cho biết, thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, địa phương xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng, giá trị và sức cạnh tranh của các sản phẩm OCOP trên địa bàn.

Ông Lê Văn Tú (áo trắng), Chủ tịch UBND xã Hồng Thái. (ảnh: Lô Giang)
Thời gian qua, UBND xã tập trung tuyên truyền, hướng dẫn các hợp tác xã, tổ hợp tác và hộ sản xuất từng bước đổi mới phương thức sản xuất; nâng cao chất lượng sản phẩm, hoàn thiện bao bì, nhãn mác, xây dựng thương hiệu và thực hiện truy xuất nguồn gốc.
Cùng với đổi mới trong sản xuất, xã khuyến khích các chủ thể ứng dụng nền tảng số để quảng bá, giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm; từng bước đưa nông sản lên các kênh bán hàng trực tuyến, sử dụng mạng xã hội để mở rộng khả năng tiếp cận người tiêu dùng.
Theo ông Tú, hiện xã Hồng Thái có 17 sản phẩm OCOP được công nhận, trong đó 13 sản phẩm đạt OCOP 3 sao, 3 sản phẩm đạt OCOP 4 sao và một sản phẩm đạt OCOP 5 sao. Đây là cơ sở để địa phương tiếp tục nâng cao chất lượng sản phẩm, gắn phát triển OCOP với lợi thế nông nghiệp và cảnh quan du lịch của địa phương.
"Phát triển OCOP không chỉ là câu chuyện của một sản phẩm mà còn góp phần hình thành các vùng sản xuất hàng hóa, tạo đầu ra ổn định hơn cho người nông dân, khuyến khích người dân nâng cao chất lượng và từng bước chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất gắn với thị trường", ông Tú cho biết.
Để tạo nền tảng cho quá trình này, trong quy hoạch sử dụng đất, xã đã xác định các vùng trồng, vùng nguyên liệu, trong đó có vùng chè và vùng trồng măng - những sản phẩm có thế mạnh của địa phương.
Các chủ thể OCOP cũng được khuyến khích ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất, chế biến, bảo quản, truy xuất nguồn gốc; tăng cường quảng bá trên nền tảng số và các kênh thương mại điện tử.
Một bước thử nghiệm mới là "phiên chợ số" được xã Hồng Thái triển khai, thu hút các hợp tác xã, chủ thể sản xuất tham gia và người dân đăng ký mua hàng trên nền tảng số.
Theo ông Tú, mục tiêu của Hồng Thái không dừng lại ở việc có thêm sản phẩm đạt OCOP. Quan trọng hơn, các sản phẩm phải thực sự tạo được thị trường, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân và trở thành những sản phẩm góp phần quảng bá hình ảnh địa phương.

Thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết 71/NQ-CP của Chính phủ, việc đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào sản xuất đang được cụ thể hóa từ những mô hình thực tế.
Tại xã Hồng Thái, quá trình ấy trước hết được đo bằng những thay đổi gần gũi với người dân, từ năng lực chế biến tăng, chất lượng sản phẩm ổn định hơn, đến thị trường được mở rộng, chè làm ra có nơi thu mua và người trồng chè có thêm nguồn thu nhập thường xuyên từ chính cây trồng gắn bó với quê hương.
Bình luận (0)