Hoạt động thu hoạch ngao được tổ chức theo từng khu vực, góp phần chủ động nguồn nguyên liệu cho các cơ sở thu mua. Ảnh: Dương Duy
Từ lợi thế vùng biển đến yêu cầu đổi mới sản xuất
Với gần 90 km bờ biển cùng hệ thống cửa sông, bãi triều và diện tích đất ngập nước ven biển rộng lớn, Ninh Bình có nhiều lợi thế để phát triển nuôi trồng thủy sản. Trong đó, ngao là một trong những đối tượng nuôi chủ lực, gắn bó với sinh kế của người dân vùng ven biển và có tiềm năng kết nối với các cơ sở chế biến, thị trường tiêu thụ trong nước cũng như xuất khẩu.
Sau sắp xếp đơn vị hành chính, toàn tỉnh hiện có khoảng 3.415 ha nuôi ngao, tập trung tại ba vùng sản xuất hàng hóa: khu vực Giao Minh, Giao Hòa, Giao Phúc với 1.831 ha; khu vực Rạng Đông 284 ha và khu vực Kim Đông 1.300 ha. Đối tượng nuôi chủ yếu là ngao Bến Tre (Meretrix lyrata), chiếm khoảng 85%; ngao dầu bản địa và các đối tượng khác chiếm khoảng 15%.

Người dân vùng ven biển Ninh Bình thu hoạch ngao tại các bãi nuôi, cung cấp nguyên liệu cho thị trường tiêu thụ và chế biến. Ảnh: Dương Duy
Trao đổi với phóng viên Thời báo VTV, ông Nguyễn Văn Thái, Phó chủ tịch Hợp tác xã ngao Kim Sơn, xã Kim Đông, tỉnh Ninh Bình cho biết, vùng ven biển Kim Sơn có chiều dài bờ biển hơn 18,5km cùng 2 cửa sông Đáy và sông Càn. Toàn xã có 226 hộ tham gia nuôi ngao. Diện tích nuôi ngao thương phẩm của xã hiện có khoảng 1.200ha, tập trung từ vùng ngoài đê Bình Minh III đến Cồn Nổi, cả vùng phụ cận khoảng hơn 2.000 ha. Nghề nuôi ngao trở thành nguồn thu nhập chính, tạo việc làm ổn định cho người dân địa phương.
Ông Nguyễn Văn Thái, Phó Chủ tịch HTX ngao Kim Sơn, Ninh Bình.
Quy mô diện tích và kinh nghiệm sản xuất tích lũy qua nhiều năm tạo nền tảng quan trọng để Ninh Bình phát triển ngành hàng ngao. Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc, phương thức sản xuất truyền thống đang bộc lộ những hạn chế. Chất lượng con giống, biến động môi trường bãi triều, mật độ nuôi, thời gian thu hoạch và sự thiếu đồng bộ trong liên kết sản xuất vẫn là những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của toàn chuỗi.
Trong bối cảnh đó, việc ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là giải pháp nâng cao năng suất mà còn là yêu cầu để tổ chức lại sản xuất, tăng khả năng kiểm soát chất lượng và nâng giá trị sản phẩm. Đây cũng là hướng đi cụ thể nhằm đưa tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia vào thực tiễn sản xuất.

Ứng dụng công nghệ trong khâu thu hoạch ngao. Ảnh: Dương Duy
Cùng với đó, Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 1/4/2025 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 57 tiếp tục đặt ra yêu cầu thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Với Ninh Bình, phát triển chuỗi giá trị ngao là một hướng đi có nhiều dư địa để cụ thể hóa những định hướng này.
Làm chủ nguồn giống, nâng chất lượng vùng nuôi
Một trong những chuyển biến quan trọng của nghề nuôi ngao tại Ninh Bình là từng bước chủ động được nguồn giống. Trước năm 2007, người nuôi chủ yếu phụ thuộc vào nguồn giống tự nhiên, sản lượng không ổn định, chất lượng không đồng đều, khiến việc xây dựng kế hoạch sản xuất gặp nhiều khó khăn.
Thông qua các hoạt động hỗ trợ, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và phát triển cơ sở sản xuất giống, người dân, doanh nghiệp trên địa bàn từng bước làm chủ công nghệ sản xuất giống ngao nhân tạo. Năm 2025, sản lượng ngao giống sản xuất trong tỉnh đạt hơn 119 tỷ con; năm 2026 ước đạt 117 tỷ con. Nguồn giống tại chỗ không chỉ góp phần đáp ứng nhu cầu nuôi thương phẩm mà còn cung cấp cho các địa phương lân cận, tạo tiền đề chủ động nguyên liệu cho chuỗi sản xuất.

Ngao sau khi thu hoạch được tập kết để vận chuyển về khu vực sơ chế, phân loại. Ảnh: Dương Duy
Tuy nhiên, chủ động về số lượng mới là một phần của bài toán. Để nâng cao hiệu quả, các cơ sở sản xuất cần tiếp tục nghiên cứu, chọn lọc, cải thiện chất lượng con giống; kiểm soát chặt chẽ nguồn gốc và chất lượng trước khi đưa vào vùng nuôi. Việc ứng dụng công nghệ trong lưu trữ, quản lý thông tin về giống và quá trình cung ứng sẽ giúp tăng tính minh bạch, hạn chế rủi ro và tạo cơ sở để truy xuất nguồn gốc ngay từ khâu đầu tiên.
Ở khâu nuôi thương phẩm, yêu cầu đặt ra là chuyển dần từ kinh nghiệm sản xuất đơn lẻ sang quy trình có theo dõi, đánh giá và kiểm soát bằng dữ liệu. Các yếu tố như điều kiện môi trường bãi triều, mật độ thả nuôi, thời gian sinh trưởng và lịch thu hoạch cần được quản lý phù hợp với đặc điểm từng vùng. Một số hướng nghiên cứu, ứng dụng công nghệ về chọn lọc giống, điều kiện môi trường vùng nuôi, sản xuất vi tảo phục vụ giai đoạn ương giống đang mở ra khả năng nâng cao tính chủ động trong sản xuất.

Liên kết giữa người nuôi, tổ hợp tác và doanh nghiệp góp phần hình thành vùng nguyên liệu tập trung, ổn định đầu vào cho chế biến. Ảnh: Dương Duy
Cùng với tiến bộ kỹ thuật, công tác quản lý an toàn thực phẩm đối với nhuyễn thể hai mảnh vỏ cũng được quan tâm. Ba vùng nuôi của tỉnh đã được phân loại phục vụ quản lý điều kiện thu hoạch và cung cấp nguyên liệu chế biến xuất khẩu. Trong đó, vùng Kim Sơn xếp loại C; vùng Giao Thủy và vùng Nghĩa Hưng xếp loại B. Việc phân loại là cơ sở để tổ chức thu hoạch, kiểm soát chất lượng nguyên liệu theo yêu cầu quản lý an toàn thực phẩm.
Ông Nguyễn Tiến Dũng, Chủ cơ sở thu hoạch ngao tại xã Bình Minh cho biết, ngao xuất khẩu được thu hoạch định kỳ nghiêm ngặt, bảo đảm đúng kích cỡ thương phẩm và giảm tác động đến môi trường. Sau khi thu hoạch, ngao được làm sạch bằng nước biển đã qua xử lý, loại bỏ tạp chất và phân loại tập trung. "Hiện tại gia đình ít cung cấp ra thị trường bán lẻ, mục tiêu là làm những con hàng sạch sẽ để cung cấp cho các Công ty xuất khẩu sang thị trường EU đều trong 1 năm.." ông Dũng nói.
Ông Nguyễn Tiến Dũng, Chủ cơ sở thu hoạch ngao tại xã Bình Minh, tỉnh Ninh Bình.
Để công nghệ thực sự phát huy hiệu quả, các mô hình cần được đánh giá bằng những chỉ tiêu cụ thể như tỷ lệ sống, tốc độ sinh trưởng, năng suất, thời gian nuôi, chi phí sản xuất và chất lượng sản phẩm. Trên cơ sở đó, tỉnh có thể lựa chọn quy trình phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng, tránh đầu tư dàn trải hoặc áp dụng công nghệ chưa phù hợp với thực tế sản xuất.
Số hóa chuỗi giá trị, mở rộng thị trường và tạo động lực tăng trưởng
Nếu sản xuất giống và nuôi thương phẩm quyết định chất lượng nguyên liệu thì liên kết chuỗi, chế biến và tiêu thụ là những khâu tạo nên giá trị gia tăng cho sản phẩm. Tại Ninh Bình, sự tham gia của các tổ hợp tác, doanh nghiệp thu mua và cơ sở chế biến đang góp phần từng bước kết nối các mắt xích trong chuỗi giá trị ngao.

Ứng dụng công nghệ trong làm sạch, sơ chế và bảo quản giúp nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu của thị trường tiêu thụ. Ảnh: TT
Công ty TNHH Thủy sản Lenger Việt Nam là một trong những doanh nghiệp tham gia phát triển chuỗi giá trị ngao tại địa phương, đầu tư nhà máy chế biến phục vụ xuất khẩu. Việc áp dụng các hệ thống tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm và quản lý chất lượng giúp doanh nghiệp hướng tới những thị trường có yêu cầu cao. Sản phẩm “Nghêu sạch Lenger” đã đạt chứng nhận OCOP 4 sao của tỉnh.

Sản phẩm chế biến từ nghêu của Công ty Thủy sản Lenger Việt Nam đã có mặt tại nhiều siêu thị lớn tại Việt Nam. Ảnh: TT
Thực tế cho thấy, khi doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi, yêu cầu về chất lượng, quy cách sản phẩm và truy xuất nguồn gốc có thể được định hướng ngay từ vùng nguyên liệu. Người nuôi có thêm cơ sở để điều chỉnh quy trình sản xuất theo nhu cầu thị trường; doanh nghiệp chủ động hơn trong thu mua, chế biến và tổ chức đơn hàng. Đây là điều kiện quan trọng để hạn chế tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, thiếu liên kết và phụ thuộc vào khâu tiêu thụ nguyên liệu thô.
Trong giai đoạn tới, chuyển đổi số cần trở thành công cụ hỗ trợ xuyên suốt chuỗi giá trị. Trước hết là xây dựng, chuẩn hóa và cập nhật dữ liệu về vùng nuôi, cơ sở sản xuất giống, doanh nghiệp thu mua, nhà máy chế biến và tình hình sản xuất. Từng bước ứng dụng công nghệ số trong theo dõi môi trường, cảnh báo rủi ro, quản lý lịch sử nuôi và giám sát quá trình thu hoạch.
Việc áp dụng nhật ký sản xuất điện tử, mã định danh vùng nuôi và truy xuất nguồn gốc cần được triển khai theo lộ trình phù hợp với quy mô, năng lực của người dân và doanh nghiệp. Khi dữ liệu được kết nối, chia sẻ giữa cơ quan quản lý, người nuôi và doanh nghiệp, quá trình điều hành sản xuất sẽ có thêm căn cứ; việc kiểm soát chất lượng, xác định nguồn gốc nguyên liệu và đáp ứng yêu cầu của thị trường cũng thuận lợi hơn.

Nâng cao chất lượng thu hoạch và phân loại là một trong những giải pháp quan trọng để phát triển chuỗi giá trị ngao theo hướng chuyên nghiệp, bền vững. Ảnh: Dương Duy
Cùng với số hóa, đổi mới công nghệ chế biến là khâu có ý nghĩa quan trọng để nâng giá trị sản phẩm. Thay vì chủ yếu tiêu thụ nguyên liệu thô, các doanh nghiệp cần quan tâm đầu tư dây chuyền làm sạch, sơ chế, bảo quản và chế biến sâu; đa dạng hóa sản phẩm, nâng tỷ lệ sản phẩm có giá trị gia tăng. Việc phát triển thương hiệu, hoàn thiện bao bì, tiêu chuẩn chất lượng và chứng nhận phù hợp sẽ góp phần nâng khả năng cạnh tranh của ngao Ninh Bình trên thị trường xuất khẩu.
Dẫu vậy, quá trình chuyển đổi vẫn còn không ít điểm nghẽn. Hạ tầng vùng nuôi, quan trắc môi trường và tổ chức thu hoạch chưa đồng bộ; nguồn lực đầu tư của nhiều hộ nuôi còn hạn chế. Biến đổi khí hậu, bồi lắng và biến động môi trường bãi triều tiềm ẩn rủi ro đối với năng suất, chất lượng. Liên kết giữa người nuôi và doanh nghiệp chưa thực sự bền vững; dữ liệu sản xuất còn phân tán, trong khi năng lực đổi mới công nghệ chế biến và phát triển sản phẩm mới vẫn còn dư địa lớn.
Để tháo gỡ những hạn chế này, cần tiếp tục củng cố vai trò của doanh nghiệp chế biến trong tổ chức chuỗi liên kết; khuyến khích hình thành tổ hợp tác, hợp tác xã và vùng nuôi tập trung gắn với hợp đồng tiêu thụ. Đồng thời, ưu tiên nguồn lực cho hạ tầng thiết yếu, quan trắc môi trường, kiểm soát an toàn thực phẩm; tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý, cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp và người nuôi trong chuyển giao, đánh giá và nhân rộng mô hình công nghệ hiệu quả.

Từ thu hoạch đến phân loại, mỗi công đoạn đều có ý nghĩa quan trọng trong kiểm soát chất lượng và nâng cao giá trị ngao Ninh Bình. Ảnh: Dương Duy
Hai tháng cuối năm 2026 là giai đoạn có ý nghĩa quan trọng để Ninh Bình tiếp tục duy trì đà tăng trưởng kinh tế hai con số. Trong mục tiêu chung đó, phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng sẽ góp phần khai thác tốt hơn lợi thế vùng ven biển, tạo thêm động lực cho khu vực nông nghiệp và kinh tế địa phương.
Từ chủ động nguồn giống đến quản lý vùng nuôi bằng dữ liệu, từ liên kết sản xuất đến chế biến sâu và mở rộng thị trường, chuỗi giá trị ngao Ninh Bình đang đứng trước yêu cầu đổi mới toàn diện. Khi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được triển khai thực chất, gắn với nhu cầu của doanh nghiệp và người nuôi, ngành hàng này sẽ có thêm cơ hội nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững và đóng góp tích cực vào mục tiêu tăng trưởng của tỉnh.
Bình luận (0)