Ông Hà Quang Thăng (Hà Nội) đứng tên một mình quyền sử dụng thửa đất 500 m², trong đó có 50 m² đất ở. Nay, ông có nhu cầu chuyển thêm 150 m² sang đất ở (ODT), nằm trong hạn mức giao đất ở để xây nhà.
Khi nộp hồ sơ kèm đơn đề nghị áp dụng chính sách tính tiền sử dụng đất theo Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 50/2026/NĐ-CP, cán bộ địa chính thông báo thửa đất của ông Thăng không được áp dụng chính sách giảm giá tiền chuyển mục đích với lý do, vợ ông đã đứng tên sở hữu một thửa đất khác và đã được hưởng chính sách này ở thửa đất đó.
Ông Thăng hỏi, trường hợp vợ ông đã đứng tên và được hưởng chính sách tại thửa đất khác, thì thửa đất đứng tên riêng của ông đang xin chuyển mục đích có còn được tiếp tục áp dụng chính sách giảm giá tiền chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 hay không?
Về vấn đề này, Thuế cơ sở 16 TP. Hà Nội có ý kiến như sau:
Theo điểm c Khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai.
"... c) Trường hợp đất vườn, ao, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở được xác định khi công nhận quyền sử dụng đất mà chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở; chuyển từ đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền đất ở nhưng người sử dụng đất tách ra để chuyển quyền sử dụng đất hoặc do đơn vị đo đạc khi đo vẽ bản đồ địa chính trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 đã tự đo đạc tách thành các thửa riêng sang đất ở thì tính tiền sử dụng đất theo mức thu bằng: 30% chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở và tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất (sau đây gọi tắt là chênh lệch) đối với diện tích đất chuyển mục đích sử dụng trong hạn mức giao đất ở tại địa phương; 50% chênh lệch đối với diện tích đất vượt hạn mức nhưng không quá 01 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương; 100% chênh lệch đối với diện tích đất vượt hạn mức mà vượt quá 01 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương. Mức thu tiền sử dụng đất nêu trên chỉ được tính một lần cho một hộ gia đình, cá nhân (tính trên 01 thửa đất)".
Theo điểm đ khoản 2 Điều 12 Nghị định số 50/2026/NĐ-CP ngày 31/1/2026 của Chính phủ quy định trình tự, thủ tục tính tiền sử dụng đất hoặc tính lại tiền sử dụng đất theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản này như sau:
"Hộ gia đình, cá nhân nộp văn bản thể hiện đề nghị tính hoặc tính lại tiền sử dụng đất theo quy định tại Nghị định này chậm nhất trước ngày 01 tháng 01 năm 2027 đến bộ phận một cửa liên thông; bộ phận một cửa liên thông cấp giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả; chuyển văn bản này đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất để thực hiện việc xác định hạn mức giao đất ở của thửa đất được lựa chọn để tính hoặc tính lại tiền sử dụng đất; chuyển thông tin đến cơ quan thuế. Không áp dụng tính tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều này đối với trường hợp người sử dụng đất nộp văn bản đề nghị từ ngày 01 tháng 01 năm 2027 trở về sau.
Cơ quan thuế thực hiện việc tính hoặc tính lại tiền sử dụng đất theo quy định tại Nghị định này; ban hành thông báo nộp tiền sử dụng đất hoặc thông bảo điều chỉnh thông báo nộp tiền sử dụng đất gửi cho người sử dụng đất; đồng thời gửi thông tin đến Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định".
Theo quy định nêu trên, đề nghị ông đối chiếu với hồ sơ cụ thể, nguồn gốc đất thực tế của mình để xác định có thuộc trường hợp được miễn giảm tiền sử dụng đất theo điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội hay không? Trường hợp thuộc đối tượng và đủ điều kiện thì liên hệ với UBND phường để được xem xét, giải quyết theo quy định.
Thuế cơ sở 16 TP. Hà Nội trả lời để ông Thăng được biết và thực hiện theo quy định.
Bình luận (0)