Tại sao phải tầm soát ung thư toàn thân?

PVCập nhật 16:34 ngày 12/09/2018

VTV.vn - Tầm soát ung thư toàn thân là phương pháp tầm soát giúp phát hiện sớm hầu hết các khối u trên cơ thể ở các cơ quan như thực quản, dạ dày, vòm họng, vú, cổ tử cung (nữ)...

Tầm soát ung thư toàn thân là gì?

Ung thư không phải là bản án tử hình như nhiều người vẫn nghĩ. Bệnh có thể chữa được nếu phát hiện ở giai đoạn sớm. Tuy nhiên, ung thư thường phát triển từ từ và không gây ra biểu hiện ở giai đoạn đầu đến khi triệu chứng rõ ràng thì bệnh đã ở giai đoạn muộn khiến việc điều trị phức tạp, cơ hội sống cũng thấp hơn nhiều. Chính bởi vậy, theo các chuyên gia, tầm soát ung thư là cách tốt nhất giúp phòng và phát hiện sớm ung thư, tăng cơ hội điều trị cũng như cơ hội sống của người bệnh. 

Sở dĩ nói tầm soát ung thư có thể phòng bệnh ung thư là do tầm soát có thể phát hiện được những bất thường trên cơ thể có thể tiến triển thành ung thư sau này như polyp, loạn sản cổ tử cung...

Tầm soát ung thư toàn thân là việc thực hiện các xét nghiệm, chẩn đoán để phát hiện toàn bộ ung thư trên cơ thể như ung thư phổi, ung thư dạ dày, ung thư thực quản, ung thư tuyến giáp, ung thư vú, cổ tử cung (nữ)...

Các bước khám tầm soát ung thư toàn thân

Theo chia sẻ của các bác sĩ Khoa Ung bướu, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Thu Cúc, khám tầm soát ung thư toàn thân tại bệnh viện bao gồm: 

Bước 1: Khám lâm sàng với bác sĩ Ung bướu

Đây là bước đầu tiên và cũng đóng vai trò quan trọng trong tầm soát ung thư. Quá trình khám lâm sàng giúp bác sĩ tìm kiếm hạch bất thường, khối u trên cơ thể đặc biệt là ở vùng cổ, bụng... Khám lâm sàng cũng giúp bác sĩ nắm được tình trạng sức khỏe chung của người bệnh, tìm hiểu tiền sử bệnh cá nhân, gia đình, đánh giá nguy cơ bệnh...

Đối với nữ giới, Gói tầm soát ung thư nâng cao có thêm danh mục khám chuyên khoa Phụ Sản nhằm phát hiện sớm một số bệnh lý phụ khoa.

Tại sao phải tầm soát ung thư toàn thân? - Ảnh 1.

Khám lâm sàng là bước đầu tiên, đóng vai trò quan trọng trong tầm soát ung thư toàn thân

Bước 2: Các xét nghiệm

- Xét nghiệm máu: đây là xét nghiệm tìm dấu ấn ung thư có giá trị nếu biết cách áp dụng. Một số chất chỉ điểm ung thư có giá trị thường được sử dụng bao gồm CA 125 (ung thư buồng trứng), CA 15 - 3 (ung thư vú), PSA (ung thư tuyến tiền liệt), AFP (ung thư gan nguyên phát), CEA (ung thư đại trực tràng)...

- Xét nghiệm nước tiểu, tìm máu trong phân: sàng lọc ung thư đại trực tràng hoặc polyp đại trực tràng. Đối với nữ giới, có thêm xét nghiệm sinh hóa: PAP, HPV là những xét nghiệm giúp phát hiện những bất thường sớm ở cổ tử cung - loạn sản. 

Bước 3 : Chẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng

Chẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng có thể cho thấy hình ảnh chi tiết bên trong các cơ quan trong cơ thể, hình ảnh khối u, kích thước khối u, và vị trí di căn. Một số phương pháp thường được chỉ định bao gồm:

- Chụp X-quang tuyến vú (chụp nhũ ảnh): thường là lựa chọn đầu tiên để xác định ung thư vú ở nữ

- Siêu âm ổ bụng: được ứng dụng nhiều trong chẩn đoán ung thư nguyên phát, sự xâm lấn của u nguyên phát sang các cơ quan lân cận và phát hiện di căn xa như: ung thư gan, ung thư thận, ung thư buồng trứng… 

- Siêu âm tuyến giáp: phát hiện sớm ung thư và bệnh lý tuyến giáp 

- Chụp CT lồng ngực – ổ bụng – tiểu khung: làm nổi bật các khối u nguyên phát và cả các ổ di căn với khả năng phát hiện các khối u, bao gồm cả u nguyên phát và thứ phát với kích thước nhỏ

- Nội soi: nội soi tai mũi họng, nội soi dạ dày, nội soi đại tràng, trực tràng… cho phép bác sĩ phát hiện các bất thường, ung thư trong cơ thể. Trong quá trình nội soi, nếu nghi ngờ ung thư, bác sĩ có thể làm thủ tục sinh thiết đồng thời.

Sau khi một loạt các xét nghiệm, chẩn đoán và đã xác định được khối u, bác sĩ sẽ chỉ định thực hiện sinh thiết để kết luận về ung thư. Sinh thiết là thủ tục trong đó các bác sĩ loại bỏ một mẫu mô sau đó quan sát dưới kính hiển vi để xác định chính xác tình trạng bệnh.

* Mời quý độc giả theo dõi các chương trình đã phát sóng của Đài Truyền hình Việt Nam trên TV Online!

Nguy hiểm: Ung thư vú di căn lên não

VTV.vn - Ung thư vú nếu không được phát hiện sớm bệnh sẽ di căn não và nhiều cơ quan khác nên việc điều trị khó khăn, tiên lượng sống dè dặt hơn các giai đoạn khác.