Nhu cầu đầu tư vào hạ tầng cảng biển
Thương mại hàng hải toàn cầu đang trải qua một giai đoạn nhiều biến động với những điểm nghẽn do xung đột địa chính trị từ eo biển Hormuz, Biển Đỏ cho tới Biển Đen. Những tắc nghẽn trong chuỗi cung ứng đang khiến giá cước vận tải neo ở mức cao.
Tuy nhiên, theo Giám đốc điều hành tập đoàn vận tải biển Maersk - ông Vincent Clerc, điểm nghẽn lớn nhất của thương mại toàn cầu hiện nay không nằm trên biển mà lại nằm ở cơ sở hạ tầng. Theo ông, kể từ cuộc khủng hoảng tài chính 2008, thế giới đã thiếu đầu tư vào hạ tầng vận tải, bao gồm các cảng biển, trong khoảng 15 năm, khiến năng lực vận chuyển không theo kịp với tốc độ tăng trưởng thương mại.
Áp lực đầu tư hiện đặc biệt lớn tại châu Á. Ngân hàng Thế giới ước tính các cảng biển Đông Á và Thái Bình Dương sẽ cần khoảng 12 tỷ USD vốn đầu tư mỗi năm trong giai đoạn 2025 - 2040 nhằm mở rộng công suất và nâng cao hiệu quả khai thác. Riêng lĩnh vực vận tải container cần thêm khoảng 90 tỷ USD để nâng năng lực xử lý lên 300 triệu container tiêu chuẩn vào năm 2040, gần gấp đôi hiện nay.

Ảnh minh họa - Ảnh: Reuters
Trung Quốc đẩy mạnh phát triển cảng biển thông minh
Trong làn sóng đầu tư mới này, Trung Quốc - quốc gia được dự báo chiếm khoảng 65% tổng nhu cầu vốn đầu tư cảng biển của khu vực - đang đẩy mạnh hiện đại hóa hệ thống cảng và cửa khẩu. Theo kế hoạch giai đoạn 2026 - 2030, nước này sẽ nâng cấp hạ tầng tại 57 cảng và cửa khẩu, đồng thời đưa 43 cảng trọng điểm vào chương trình xây dựng cảng thông minh với việc mở rộng ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý và vận hành. Tại Thượng Hải - cảng container lớn nhất thế giới, những công nghệ này đang góp phần giải quyết bài toán ngày càng phức tạp của chuỗi logistics hiện đại.
Mỗi ngày, lượng hàng hóa tương đương hàng trăm nghìn container tiêu chuẩn được bốc dỡ và trung chuyển tại cảng Thượng Hải. Khi quy mô tàu hàng ngày càng lớn, việc phối hợp giữa các bộ phận vận hành cũng trở nên phức tạp hơn. Chỉ một khoảng trống thông tin nhỏ trong quá trình bàn giao công việc cũng có thể dẫn tới rủi ro.
Ông Chen Huanan - Giám sát Quản lý An toàn, Cảng Container Quốc tế Quán Đông, Tập đoàn Cảng Thượng Hải cho biết: "Nếu bàn giao ca không đầy đủ và tàu có những nguy cơ tiềm ẩn, những người vận hành cẩu giàn có thể không nắm được toàn bộ tình hình. Điều đó có thể dẫn đến việc lệch khớp cẩu hoặc thậm chí lật container, cực kỳ nguy hiểm".
Khối lượng hàng hóa khổng lồ cùng hàng loạt hoạt động diễn ra đồng thời đã đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác điều phối. Đây là lúc AI được đưa vào hỗ trợ phân tích dữ liệu và xây dựng phương án vận hành.
Ông Huang Heng - Tổng Giám đốc Công ty Công nghệ NIZE cho hay: "Một nhân viên vận hành có thể xoay xở khoảng sáu điểm điều phối cùng lúc cho một cẩu giàn. Nhưng khi tàu ngày càng lớn, chúng tôi có hơn 20 điểm cần điều phối đồng thời với mỗi con tàu. AI làm được gì? Nó nhìn xa hơn một bước: Sau khi 20 điểm này được điều phối xong, nó sẽ ảnh hưởng thế nào đến đợt tiếp theo? Đó là điều mà con người đơn giản là không thể tính nổi".
Hiện AI đã được ứng dụng trong nhiều khâu tại cảng, từ bảo trì thiết bị, giám sát an toàn đến điều phối hàng hóa. Hệ thống giúp giảm đáng kể số lần phải di chuyển và sắp xếp lại container trong quá trình trung chuyển.
Anh Hong Yang - Nhân viên Điều hành, Cảng Container Quốc tế Thịnh Đông, Tập đoàn Cảng Thượng Hải cho biết: "Kể từ khi hệ thống thuật toán đi vào hoạt động, tỷ lệ đảo chuyển đối với container trung chuyển khối lượng lớn đã giảm từ 55% xuống chỉ còn 7%. Đồng thời, tỷ lệ đảo chuyển cho các tàu tuyến chính cũng giảm từ 36% xuống 27%".
Cùng với quá trình tự động hóa và mở rộng hạ tầng, việc ứng dụng AI đang góp phần nâng cao hiệu quả khai thác. Năm ngoái, cảng Thượng Hải xử lý hơn 55 triệu container tiêu chuẩn và có 16 năm liền giữ vị trí cảng container lớn nhất thế giới.

Tàu container tại cảng ở tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Ảnh minh họa: THX/TTXVN
Cảng xanh - Hướng đi mới của Nhật Bản
Không chỉ đầu tư vào hạ tầng hay đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo, nhiều cảng biển tại châu Á cũng đang bước vào cuộc đua xanh hóa hoạt động logistics. Theo Ngân hàng Thế giới, quá trình giảm phát thải và chuyển đổi năng lượng sẽ đòi hỏi các cảng trong khu vực đầu tư thêm từ hàng chục triệu đến hàng tỷ USD cho cơ sở hạ tầng nhiên liệu sạch và công nghệ mới.
Tại Nhật Bản, cảng Kobe đang theo đuổi một hướng đi như vậy. Từng là một trong những cảng biển sầm uất nhất châu Á, Kobe hiện đặt mục tiêu trở thành "cảng trung hòa carbon", với việc mở rộng sử dụng hydro, điện khí hóa thiết bị bốc dỡ và giảm phát thải trong toàn bộ chuỗi logistics.
Nhà máy phát điện, nhiệt hoàn toàn bằng năng lượng hydro tại cảng Kobe có khả năng cung cấp tối đa 1,1 MW điện và 2,8 MW nhiệt. Mục tiêu của Chính phủ Nhật Bản là đưa giá hydro xuống khoảng 30 yen/Nm³ vào năm 2030 và 20 yen/Nm³ vào năm 2050. Điều này có thể giúp dự án đạt mục tiêu thương mại hóa vào năm 2030. Sử dụng nhiên liệu Hydro đang được cảng Kobe mở rộng ứng dụng cho nhiều lĩnh vực khác.
Ông Moto Nishimura - Phụ trách chiến lược năng lượng Hydro, Tập đoàn Kawasaki, Nhật Bản cho biết: "Ví dụ trong lĩnh vực giao thông vận tải như xe tải vận chuyển đường dài, hoặc tàu container chở hàng, và cả máy bay nữa, việc điện khí hóa với những lĩnh vực này rất khó khăn. Hoặc việc nung nóng lò luyện sắt tĩnh điện hoặc lò nung nhiệt độ cao vượt quá 500 độ C sẽ rất khó thực hiện nếu chỉ bằng điện, nên nguyên liệu hydro trở nên cần thiết trong những lĩnh vực này".
Chiến lược đầu tư cảng trung hòa carbon của Kobe được triển khai trên 5 trụ cột gồm điện khí hóa thiết bị cảng, sử dụng hydro và nhiên liệu sạch, giảm phát thải từ tàu biển, tiết kiệm năng lượng và số hóa logistics. Thành phố kỳ vọng những khoản đầu tư này không chỉ giúp giảm phát thải, mà còn nâng cao sức cạnh tranh của cảng biển trong bối cảnh các tiêu chuẩn môi trường ngày càng ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn cảng của doanh nghiệp logistics và các hãng tàu quốc tế.
Ông Hisamoto Kizo - Thị trưởng Thành phố Kobe, tỉnh Hyogo, Nhật Bản cho biết: "Để giảm lượng khí thải CO2, chúng tôi cần chuyển đổi các nhiên liệu hóa thạch hiện đang được sử dụng như xăng và dầu diesel, thành điện năng sạch và năng lượng hydro. Chúng tôi gọi đây là chiến lược cảng trung hòa carbon".
Trong những năm gần đây, các cảng biển Nhật Bản chuyển mạnh sang hướng xanh hóa, giảm phát thải và sử dụng năng lượng sạch. Đây là cách Nhật Bản vừa nâng sức cạnh tranh của cảng biển, vừa chuẩn bị cho những thay đổi dài hạn của thương mại toàn cầu.
Cảng Kobe hiện tạo ra hơn 30% thu nhập của thành phố; trong khi nhu cầu hydro tại khu vực cảng được dự báo có thể tăng từ khoảng 40.000 tấn năm 2030 lên 570.000 tấn vào năm 2050, mở ra thị trường năng lượng trị giá tương đương khoảng 800 triệu USD mỗi năm, cùng một ngành công nghiệp thiết bị và logistics mới.
Từ nâng cấp hạ tầng, ứng dụng trí tuệ nhân tạo cho tới chuyển đổi xanh, các cảng biển châu Á đang bước vào một chu kỳ đầu tư mới. Không chỉ nhằm giải quyết những điểm nghẽn hiện tại của chuỗi cung ứng, những khoản đầu tư này còn được kỳ vọng sẽ định hình năng lực cạnh tranh của khu vực trong nhiều thập kỷ tới.
Bình luận (0)