Cầu Thành Vượng - nhịp cầu Hòa Bình trên vùng đất căn cứ Cách mạng

VTV.vn - Cầu Thành Vượng là một "nhịp cầu Hòa Bình" theo nghĩa đẹp nhất: nhịp cầu của hòa bình, của tri ân, của trách nhiệm xã hội, của đổi mới sáng tạo.

Cắt băng khánh thành cầu Thành Vượng

Cắt băng khánh thành cầu Thành Vượng

Ngày 5/7/2026, tại khu vực thôn Hòa Bình (trước đây là thôn Thành Vượng), xã Bình Thành, tỉnh Thái Nguyên, Cầu Thành Vượng chính thức được khánh thành, thay thế ngầm tràn cũ qua suối, nơi nhiều năm qua là điểm mất an toàn giao thông mỗi khi có mưa lũ.

Trước đây, vào những ngày thời tiết bình thường, ngầm tràn qua suối vẫn là lối đi quen thuộc của người dân. Nhưng chỉ cần mưa vừa, việc qua lại đã tiềm ẩn nhiều rủi ro; khi mưa lớn, nước suối dâng cao, giao thông bị chia cắt hoàn toàn. Sự chia cắt ấy không chỉ gây bất tiện trong sinh hoạt hằng ngày, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, vận chuyển hàng hóa, việc học tập của học sinh, chăm sóc y tế và xử lý các tình huống khẩn cấp của nhân dân địa phương.

Cầu Thành Vượng sau khi hoàn thành

Cầu Thành Vượng - nhịp cầu Hòa Bình trên vùng đất căn cứ Cách mạng - Ảnh 2.

Toàn cảnh lao lắp dầm Hollowcore hai nhịp

Việc đưa Cầu Thành Vượng vào sử dụng đã giải quyết một điểm nghẽn giao thông cụ thể, thiết thực và cấp bách. Từ nay, người dân thôn Hòa Bình và các khu vực lân cận không còn phải lo lắng về việc đi lại qua ngầm tràn vào mùa mưa; giao thông được kết nối ổn định, thông suốt hơn, an toàn hơn và thuận lợi hơn. 

Nhưng ý nghĩa của Cầu Thành Vượng không chỉ dừng lại ở một công trình dân sinh. Theo thông tin của chủ đầu tư và đơn vị kỹ thuật, đây là cây cầu dân sinh đầu tiên ở Việt Nam được xây dựng bằng công nghệ dầm hộp rỗng bê tông cốt thép dự ứng lực. Vì vậy, cây cầu không chỉ thay thế một ngầm tràn mất an toàn vào mùa mưa, mà còn là minh chứng thực tiễn cho khả năng đổi mới sáng tạo, đưa công nghệ mới vào giải quyết những bài toán rất cụ thể của đời sống nhân dân.

Đối với những vị trí không đòi hỏi khẩu độ nhịp lớn, nhất là các công trình có nhịp ngắn và vừa khoảng 10-12m, giải pháp dầm hộp rỗng bê tông cốt thép dự ứng lực có thể thay thế hiệu quả một số phương án truyền thống như đắp nền, sử dụng dầm bê tông đặc hoặc làm cầu cạn bằng kết cấu nặng hơn. Đây là điểm rất đáng chú ý, bởi trong phần lớn công trình cầu dân sinh, yêu cầu đặt ra không phải là vượt khẩu độ thật lớn, mà là cần một giải pháp an toàn, bền vững, thi công nhanh, chi phí hợp lý, ít phải bảo trì, phù hợp với điều kiện địa hình, địa chất cụ thể và hạn chế những bất lợi thường gặp ở phương án sử dụng vật liệu đắp nền khi có mưa bão, ngập lũ, sạt lở.

Đoàn công tác kiểm tra chất lượng cầu sau khi lao dầm

Không chỉ có ý nghĩa trong xây cầu, công nghệ này còn gợi mở một hướng tiếp cận mang tính đột phá để thay thế phương pháp làm đường dựa vào đắp nền tại những khu vực nền đất yếu, ngập nước, vùng trũng, vùng ngập mặn, vùng thường xuyên sạt lở hoặc nơi thiếu nguyên liệu làm nền. Trong nhiều trường hợp, việc đắp nền không chỉ tốn nhiều đất, cát, đá, chi phí vận chuyển lớn, thời gian thi công kéo dài, mà còn tiềm ẩn nguy cơ lún, nứt, sạt trượt, ảnh hưởng đến dòng chảy tự nhiên và khả năng thoát lũ. Một giải pháp cầu cạn bằng dầm hộp rỗng đúc sẵn có thể giúp giảm đáng kể khối lượng vật liệu đắp và vật liệu kết cấu, thi công thuận tiện, nhanh hơn so với phương án dầm đặc hoặc đắp nền quy mô lớn. Giải pháp này cũng góp phần giảm áp lực công trình lên nền đất yếu, rút ngắn thời gian thi công, tạo nên công trình ổn định, bền vững hơn và giảm chi phí duy tu, bảo dưỡng trong khai thác.

Đoàn xe siêu trọng đồng thời qua cầu trong lễ thử tải

Giá trị lớn hơn của Cầu Thành Vượng là ở chỗ đã đưa một giải pháp công nghệ tiên tiến được áp dụng ở nhiều nước phát triển vào một công trình dân sinh cụ thể tại Việt Nam, phục vụ trực tiếp đời sống nhân dân.

Theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Cầu Thành Vượng có thể được nhìn nhận như một ví dụ sinh động trong thực tiễn: đột phá không nhất thiết bắt đầu từ những công trình hoành tráng, mà có thể bắt đầu từ một cây cầu dân sinh ở địa bàn khó khăn, nơi việc áp dụng công nghệ mới trực tiếp giúp giảm chi phí xây dựng, rút ngắn thời gian thi công, tiết kiệm vật liệu và đem lại lợi ích thiết thực cho người dân.

Từ công trình này, vấn đề đặt ra không phải là tiếp tục xem công nghệ dầm hộp rỗng bê tông cốt thép dự ứng lực như một ý tưởng mới cần chờ thử nghiệm thêm, mà là các cơ quan chức năng cần sớm có cơ chế tiếp nhận, chuẩn hóa và cho triển khai rộng rãi ở những địa bàn phù hợp. Trong bối cảnh đất nước đang thúc đẩy mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo tinh thần Nghị quyết số 57, những giải pháp có khả năng làm nhanh hơn, tiết kiệm hơn, bền vững hơn và phục vụ nhân dân tốt hơn cần được tiếp cận, thẩm định và áp dụng bằng tư duy đổi mới sáng tạo, thay vì để chậm lại bởi quán tính của các phương án làm cầu, đường truyền thống.

Để nhân rộng công nghệ này, các cơ quan có thẩm quyền cần sớm hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn, chỉ dẫn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật và quy trình quản lý phù hợp. Quá trình đó cần được tổ chức theo tinh thần Nhà nước kiến tạo, đồng hành và dựa trên dữ liệu thực tiễn từ các công trình đã triển khai. Đó cũng chính là một nội dung quan trọng của chuyển đổi số trong quản lý hạ tầng: số hóa dữ liệu thiết kế, thi công, thử tải, nghiệm thu, vận hành; hình thành các mẫu thiết kế điển hình; xây dựng cơ sở dữ liệu về chi phí, tuổi thọ, hiệu quả khai thác; từ đó giúp cơ quan quản lý, đơn vị tư vấn và chủ đầu tư có căn cứ khách quan để lựa chọn giải pháp tối ưu đối với từng địa bàn.

Cầu Thành Vượng có tổng giá thành xây dựng khoảng 6 tỷ đồng, do Công ty Thương binh nặng Hòa Bình thiết kế và tài trợ 100% kinh phí. Sự chung tay ấy càng có ý nghĩa khi cây cầu được xây dựng ở xã Bình Thành, nơi từng là trụ sở của Văn phòng Trung ương Đảng trong khu căn cứ địa Cách mạng của tỉnh Thái Nguyên - Thủ đô gió ngàn trong thời kỳ 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Đây thực sự là một câu chuyện đẹp về trách nhiệm xã hội và nghĩa tình tri ân.

Cũng từ ý nghĩa đặc biệt đó, trong quá trình sáp nhập 2 thôn cũ ở hai đầu cầu, nhân dân địa phương đã tự nguyện đề xuất lấy tên Hòa Bình cho thôn mới và đã được chính quyền địa phương chấp thuận. Trên cơ sở đó, một số ý kiến cho rằng địa phương có thể tiếp tục nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét đặt tên công trình là "Cầu Hòa Bình". 

Tên gọi ấy gợi nhắc đến một ý nghĩa rộng lớn: hòa bình là khát vọng cháy bỏng của dân tộc, là thành quả được đánh đổi bằng hy sinh, mất mát của rất nhiều thế hệ, là nền tảng để hôm nay những công trình mới tiếp tục được xây dựng nhằm phục vụ cuộc sống bình yên và phát triển của nhân dân. Cầu Thành Vượng hôm nay đã thực sự là một "nhịp cầu Hòa Bình" theo nghĩa đẹp nhất: nhịp cầu của hòa bình, của tri ân, của trách nhiệm xã hội, của đổi mới sáng tạo và của khát vọng đưa tiến bộ công nghệ phục vụ nhân dân.

Từ một ngầm tràn thường xuyên gây chia cắt giao thông mỗi khi mưa lũ, Bình Thành hôm nay đã có một cây cầu kiên cố, hiện đại. Nhưng thông điệp lớn hơn của công trình là: từ một cây cầu dân sinh trên vùng đất căn cứ Cách mạng, có thể mở ra một hướng tiếp cận mới cho phát triển hạ tầng giao thông ở những vùng còn khó khăn của đất nước - cần đổi mới sáng tạo, tạo ra đột phá trong tư duy để đưa các tiến bộ khoa học, công nghệ vào thực tiễn; xây dựng những cây cầu, con đường trên nhiều ngả đường đất nước nhanh hơn, tiết kiệm hơn, bền vững hơn và phục vụ tốt hơn đời sống nhân dân.

Cầu Thành Vượng không chỉ là cây cầu nối hai bờ con suối. Cây cầu còn nối truyền thống Cách mạng với tương lai phát triển của đất nước, nối nghĩa tình tri ân những hy sinh vì Tổ quốc với sự phát triển kinh tế - xã hội, nối một nhu cầu dân sinh cụ thể với một giải pháp công nghệ có ý nghĩa rộng lớn đối với hạ tầng giao thông Việt Nam. Và trên hết, cây cầu ấy cho thấy tinh thần của Nghị quyết 57 có thể bắt đầu từ những việc rất cụ thể: một công nghệ mới được mạnh dạn áp dụng, một công trình thiết thực được hoàn thành, một cộng đồng dân cư được hưởng lợi và một hướng đi mới được mở ra cho phát triển đất nước.

Phạm Thế Bính, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số - Cơ yếu, Văn phòng Trung ương Đảng, Thư ký Tổ Giúp việc Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bình luận không đăng nhập

Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.