Ảnh minh họa
Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng tốc chuyển đổi số và tái cơ cấu nền kinh tế với mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong bối cảnh đó, trí tuệ nhân tạo (AI), công nghiệp bán dẫn và công nghệ số được xác định là những động lực tăng trưởng mới. Tuy nhiên, phía sau khát vọng ấy là một thách thức ngày càng rõ nét: thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây không chỉ là bài toán của thị trường lao động trong thời đại số mà còn là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong dài hạn.
Nguồn nhân lực chất lượng cao: "Trái tim" của hệ thống đổi mới sáng tạo
Trong mọi giai đoạn phát triển, con người luôn là trung tâm của tiến bộ khoa học và là động lực của đổi mới sáng tạo. Nguồn nhân lực chất lượng cao là lực lượng lao động có trình độ học vấn, kỹ năng chuyên môn, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng thích ứng với môi trường làm việc toàn cầu.
Nhận thức rõ điều này, Đảng và Nhà nước ta luôn đặt vấn đề nhân lực lên vị trí hàng đầu. Tại buổi làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ yêu cầu lấy năng suất, khoa học - công nghệ, dữ liệu và nhân lực chất lượng cao làm động lực chính.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh quan điểm cốt lõi: Phát triển con người Việt Nam toàn diện, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, giải phóng năng lực sáng tạo, kỷ luật, trách nhiệm và khát vọng cống hiến.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì cuộc làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương. (Ảnh ND)
Để hiện thực hóa điều này, Nghị quyết 71-NQ/TW xác định mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ (STEM) phải đạt ít nhất 35%. Đây được xem là tư duy chiến lược "đầu tư cho con người trước khi đầu tư cho công nghệ", bởi đội ngũ trí thức khoa học công nghệ chính là những người gieo mầm tri thức, lan tỏa sáng tạo và đưa quốc gia tiến vào nền kinh tế số.
Nếu hạ tầng số là khung xương, thể chế là mạch máu, thì nguồn nhân lực chính là trái tim của hệ thống đổi mới sáng tạo. Thực tế cho thấy, sự phát triển của công nghệ hiện đại không thể diễn ra nếu thiếu bàn tay và khối óc của con người.
Không chỉ có ý nghĩa đối với khoa học - công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao còn là động lực của tăng trưởng kinh tế dài hạn. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, chất lượng nguồn nhân lực đóng góp tới 64% vào tăng trưởng kinh tế dài hạn, vượt xa các yếu tố về vốn vật chất hay tài nguyên thiên nhiên. Lực lượng lao động có kỹ năng cao là bệ phóng giúp nền kinh tế chuyển dịch từ nông nghiệp sang các ngành công nghiệp và dịch vụ có hàm lượng tri thức cao như công nghệ thông tin, tài chính, logistics và năng lượng tái tạo.
Nghịch lý giữa lực lượng lao động dồi dào
Việt Nam đang trong thời kỳ dân số vàng với quy mô lao động lên tới hơn 50 triệu người nhưng lực lượng lao động chất lượng cao vẫn còn thiếu hụt đáng kể.
Bà Nguyễn Thị Hương, giảng viên Trường Đại học Lao động - Xã hội nhận định: "Đối với Việt Nam, sau hơn ba thập niên đổi mới, mặc dù đã đạt nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, nhưng chất lượng nguồn nhân lực vẫn là điểm nghẽn cần được tháo gỡ. Phần lớn lao động vẫn làm việc trong khu vực phi chính thức, thiếu kỹ năng và không đáp ứng được yêu cầu của các ngành công nghệ cao. Đây là thách thức nhưng đồng thời cũng là cơ hội để Việt Nam chuyển mình nếu có chiến lược phát triển nhân lực đúng đắn, toàn diện và bền vững".
Thống kê cho thấy, tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ mới đạt 28,1%. Con số này cho thấy khoảng cách khá lớn nếu so với nhiều quốc gia phát triển trong khu vực. Tại Nhật Bản, tỷ lệ người từ 25-34 tuổi có trình độ đại học trở lên đạt 66%; trong khi tại Hàn Quốc, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động có trình độ đại học đạt khoảng 53%.

Những con số thống kê về nguồn nhân lực của Việt Nam
Khoảng cách về chất lượng nguồn nhân lực cũng phản ánh qua các chỉ số phát triển. Năm 2023, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt 0,766, xếp thứ 93 thế giới, sau Singapore (0,946), Malaysia (0,819) và Thái Lan (0,798). Trong bảng xếp hạng mức độ sẵn sàng cho nền kinh tế tương lai của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), Việt Nam đứng thứ 70/132 quốc gia, trong đó chất lượng nguồn nhân lực tiếp tục được đánh giá là một trong những điểm nghẽn đáng chú ý.
Khoảng cách về năng suất lao động cũng là dễ nhận thấy. Tính theo sức mua tương đương (PPP) năm 2022, năng suất lao động của Việt Nam đạt khoảng 20.400 USD, tương đương 11,8% của Singapore, 23,1% của Hàn Quốc và 42,6% của Malaysia.
Khoảng trống càng rõ hơn trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Cả nước hiện có hơn 1,5 triệu lao động làm việc trong khối ngành này, nhưng lực lượng trực tiếp tham gia nghiên cứu và phát triển (R&D) chỉ khoảng 70.000 người. Con số này được đánh giá là chưa tương xứng với quy mô dân số cũng như mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước.
Trong khi đó, quy mô đào tạo đại học và sau đại học liên tục mở rộng với hàng triệu sinh viên cùng hàng chục nghìn học viên cao học, nghiên cứu sinh, thì chất lượng đầu ra vẫn là bài toán lớn.
Việt Nam đang trong thời kỳ dân số vàng nhưng lực lượng lao động chất lượng cao vẫn còn thiếu hụt đáng kể.
Khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho thấy hơn 40% doanh nghiệp gặp khó khăn khi tuyển dụng lao động đáp ứng yêu cầu, đặc biệt ở các kỹ năng số, ngoại ngữ và kỹ năng mềm.
Các chuyên gia cũng chỉ ra sự lệch pha giữa đào tạo và nhu cầu của thị trường lao động. Theo đó, cơ cấu ngành nghề đào tạo chưa thực sự hợp lý, chưa gắn kết chặt chẽ với nhu cầu thực tiễn; một bộ phận không nhỏ sinh viên sau khi tốt nghiệp vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng.
Đáng chú ý, chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực khoa học và công nghệ, dù đã từng bước được cải thiện nhưng tốc độ còn chậm, chưa theo kịp yêu cầu của thị trường trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra ngày càng mạnh mẽ.
Sự liên kết giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp vẫn chưa thực sự chặt chẽ. Điều này khiến khoảng cách giữa đào tạo và thực tiễn sản xuất chưa được thu hẹp, dẫn tới nghịch lý doanh nghiệp thiếu nhân lực chất lượng cao, trong khi nhiều sinh viên mới tốt nghiệp vẫn loay hoay thích nghi với môi trường làm việc.
Không chỉ thiếu về số lượng và kỹ năng, Việt Nam còn đối mặt với nguy cơ thất thoát nguồn nhân lực chất lượng cao. Mỗi năm có hàng chục nghìn sinh viên đi du học, song tỷ lệ trở về làm việc chưa cao. Bên cạnh đó, môi trường nghiên cứu vẫn còn những hạn chế khi mức đầu tư cho R&D mới khoảng 0,5% GDP, thấp hơn đáng kể so với mức trung bình khoảng 2,2% của thế giới. Đây là một trong những rào cản khiến đội ngũ nhân lực chất lượng cao chưa có nhiều điều kiện phát huy năng lực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.
Cần giải bài toán nhân lực để hiện thực hóa khát vọng phát triển
Bước vào thời đại số, lợi thế về lao động giá rẻ hay tài nguyên thiên nhiên sẽ không còn đủ để tạo nên sức cạnh tranh của nền kinh tế. Năng lực làm chủ công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển các ngành công nghiệp giá trị gia tăng cao phụ thuộc trước hết vào chất lượng nguồn nhân lực.
Trong cuộc cạnh tranh toàn cầu ngày càng dựa trên tri thức và công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao chính là nền tảng để nâng cao năng suất lao động, làm chủ các công nghệ chiến lược và tạo ra những giá trị mới cho nền kinh tế.
Vì vậy, giải bài toán nhân lực không chỉ là nhiệm vụ của ngành giáo dục hay khoa học - công nghệ. Đó là yêu cầu mang tính chiến lược, đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của Nhà nước, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và toàn xã hội nhằm xây dựng hệ sinh thái phát hiện, đào tạo, thu hút và giữ chân nhân tài. Chỉ khi tìm được lời giải, Việt Nam mới có thể biến lợi thế dân số thành lợi thế cạnh tranh, hiện thực hóa khát vọng phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới.
Bình luận (0)