Dự thảo Luật An ninh dữ liệu: Quản lý theo 5 cấp độ rủi ro

VTV.vn - Dự thảo Luật An ninh dữ liệu quy định 5 cấp độ rủi ro dựa trên khả năng xảy ra sự cố và mức độ thiệt hại đối với quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Ảnh minh họa bằng AI

Ảnh minh họa bằng AI

Theo dự kiến chương trình của Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XV, ngày 26/10, Chính phủ sẽ trình Quốc hội dự án Luật An ninh dữ liệu. Bộ Công an cho biết, Dự thảo Luật quy định toàn diện từ nguyên tắc chung đến các cơ chế bảo vệ cụ thể, nguồn lực bảo vệ và quản lý nhà nước. Theo đó có thể khái quát một số vấn đề mang tính cốt lõi, chi phối toàn bộ cách tiếp cận của đạo luật như sau:

Phương pháp luận

Cách tiếp cận quản lý theo cấp độ rủi ro mà dự thảo Luật lựa chọn không phải là một mô hình biệt lập, mà phản ánh một xu thế lập pháp đã được nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế vận dụng trong quản trị dữ liệu, an ninh mạng những năm gần đây: thay vì áp đặt một bộ quy tắc đồng nhất cho mọi loại dữ liệu, pháp luật phân hóa nghĩa vụ tuân thủ theo đúng mức độ rủi ro thực tế mà việc xử lý dữ liệu đó có thể gây ra cho xã hội. 

Dưới góc độ lý luận pháp luật, đây là sự vận dụng nguyên tắc tương xứng (proportionality) - một nguyên tắc nền tảng của khoa học pháp lý hiện đại, theo đó mức độ can thiệp của công cụ quản lý nhà nước phải tương xứng với mức độ rủi ro cần kiểm soát. Việc lựa chọn nguyên tắc này giúp tránh hai thái cực đều không mong muốn: một mặt là buông lỏng quản lý trước rủi ro an ninh dữ liệu ngày càng tinh vi, mặt khác là áp đặt một cơ chế kiểm soát đồng loạt, gây lãng phí nguồn lực giám sát của Nhà nước và tạo gánh nặng tuân thủ không cần thiết cho những chủ thể chỉ xử lý dữ liệu có mức độ rủi ro thấp.

Phạm vi điều chỉnh

Nguyên tắc áp dụng pháp luật và ranh giới với các luật chuyên ngành có liên quan. Dự thảo phân định: nguyên tắc, điều kiện xử lý dữ liệu cá nhân, quyền của chủ thể dữ liệu cá nhân tiếp tục thực hiện theo pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân; hoạt động xây dựng, quản trị, khai thác, chia sẻ, phân loại dữ liệu theo tính chất quan trọng thực hiện theo pháp luật về dữ liệu; bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin thực hiện theo pháp luật về an ninh mạng, còn việc bảo vệ an ninh của chính dữ liệu, xuyên suốt vòng đời, thực hiện theo Luật An ninh dữ liệu. 

Cách phân định này giúp tránh tình trạng một tổ chức, doanh nghiệp phải thực hiện nhiều thủ tục trùng lặp cho cùng một nội dung quản lý; dự thảo còn quy định nguyên tắc một đối tượng, một nội dung rủi ro chỉ được đánh giá, thẩm định, kiểm tra một lần.

Cơ chế quản lý theo cấp độ rủi ro

Dự thảo Luật An ninh dữ liệu quy định 05 cấp độ rủi ro an ninh dữ liệu, từ Cấp độ 1 (thấp nhất) đến Cấp độ 5 (cao nhất), xác định dựa trên khả năng xảy ra sự cố và mức độ thiệt hại có thể gây ra đối với quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. 

Dữ liệu ở cấp độ càng cao, nghĩa vụ bảo vệ càng chặt chẽ: dữ liệu Cấp độ 1, Cấp độ 2 gần như không phát sinh thủ tục hành chính; từ Cấp độ 3 trở lên, chủ quản dữ liệu phải thực hiện đánh giá tác động, kiểm toán định kỳ; dữ liệu Cấp độ 4, Cấp độ 5 phải được thẩm định an ninh dữ liệu trước khi hệ thống được đưa vào vận hành chính thức. 

Việc phân cấp độ rủi ro, theo quy định của dự thảo, không thay thế việc phân loại dữ liệu theo pháp luật về dữ liệu và không làm thay đổi quyền sở hữu, quyền quản lý, khai thác, sử dụng dữ liệu của tổ chức, cá nhân, bảo đảm công cụ quản lý an ninh không ảnh hưởng đến quyền tài sản hợp pháp đối với dữ liệu.

Bảo vệ an ninh dữ liệu theo vòng đời và chuyển dữ liệu xuyên biên giới

Dự thảo Luật xác lập định hướng bảo vệ an ninh dữ liệu xuyên suốt toàn bộ vòng đời - từ khâu thu thập, lưu trữ, xử lý, truyền đưa cho đến khi tiêu hủy - đồng thời kiểm soát chặt chẽ, có phân hóa theo cấp độ rủi ro đối với việc chuyển dữ liệu xuyên biên giới nhằm bảo vệ chủ quyền dữ liệu quốc gia. 

Theo định hướng chung, mức độ yêu cầu bảo vệ và kiểm soát tăng dần theo cấp độ rủi ro của dữ liệu; phần lớn dữ liệu có mức độ rủi ro thấp được tạo điều kiện lưu thông thuận lợi, hạn chế tối đa phát sinh thủ tục hành chính, trong khi dữ liệu có mức độ rủi ro cao được quản lý chặt chẽ hơn tương xứng. Dự thảo cũng bổ sung cơ chế bảo vệ tổ chức, cá nhân trong nước trước yêu cầu cung cấp dữ liệu trực tiếp từ nước ngoài không thông qua kênh hợp pháp, phù hợp với nguyên tắc tôn trọng chủ quyền, an ninh quốc gia và thông lệ quốc tế về tương trợ tư pháp.

Phòng ngừa, theo dõi và ứng phó sự cố an ninh dữ liệu

Dự thảo Luật xác lập định hướng chủ động phòng ngừa, theo dõi và ứng phó khi xảy ra sự cố an ninh dữ liệu, bảo đảm Nhà nước có công cụ phản ứng kịp thời đối với sự cố nghiêm trọng, đồng thời giới hạn chặt chẽ phạm vi, điều kiện áp dụng để không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. 

Theo định hướng chung, biện pháp mang tính hạn chế quyền chỉ được áp dụng khi có căn cứ rõ ràng, theo nguyên tắc ưu tiên biện pháp ít hạn chế nhất, có thời hạn áp dụng cụ thể, có cơ chế báo cáo, giám sát và bảo đảm quyền kiến nghị, khiếu nại, khởi kiện, được bồi thường của tổ chức, cá nhân trong trường hợp biện pháp được áp dụng trái pháp luật.

Bảo vệ an ninh dữ liệu đối với công nghệ mới và trí tuệ nhân tạo

Dự thảo Luật An ninh dữ liệu xác lập định hướng bảo vệ an ninh dữ liệu đối với công nghệ mới và trí tuệ nhân tạo, gắn với xu thế phát triển công nghệ hiện nay. Tổ chức, cá nhân nghiên cứu, phát triển, triển khai công nghệ mới, hệ thống trí tuệ nhân tạo xử lý dữ liệu có mức độ rủi ro cao có trách nhiệm tích hợp biện pháp bảo vệ an ninh ngay từ khâu thiết kế, bảo đảm nguồn gốc hợp pháp và tính nguyên vẹn của dữ liệu được sử dụng. 

Đồng thời, dự thảo quy định rõ định hướng không chồng chéo thủ tục: việc đánh giá an ninh dữ liệu đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo được tích hợp trong quy trình đánh giá rủi ro theo pháp luật về trí tuệ nhân tạo, không lập hồ sơ riêng, không tổ chức thẩm định riêng; cơ quan có thẩm quyền không được yêu cầu bàn giao mã nguồn, trọng số mô hình, trừ trường hợp phục vụ điều tra vụ án hình sự - qua đó vừa quản lý được rủi ro, vừa bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ của doanh nghiệp.

Trách nhiệm kiểm soát an ninh dữ liệu trong chuỗi cung ứng

Dự thảo Luật xác lập định hướng trách nhiệm kiểm soát an ninh dữ liệu trong toàn bộ chuỗi cung ứng sản phẩm, dịch vụ dữ liệu, không chỉ dừng lại trong phạm vi nội bộ một tổ chức. 

Chủ quản dữ liệu có trách nhiệm đánh giá rủi ro, giới hạn phạm vi tiếp cận dữ liệu đối với bên cung cấp sản phẩm, dịch vụ trước khi kết nối; quy định rõ nghĩa vụ bảo mật, chế tài xử lý khi để rò rỉ dữ liệu ngay trong hợp đồng; chủ động giám sát và thu hồi quyền tiếp cận khi phát hiện nguy cơ, sự cố. 

Đối với hệ thống xử lý dữ liệu có mức độ rủi ro cao, định hướng chung là kiểm soát chặt chẽ hơn việc tiếp cận từ xa của bên cung cấp. Đây là định hướng đặt trách nhiệm quản lý rủi ro xuyên suốt cả các khâu trung gian, bên thứ ba tham gia xử lý dữ liệu, vốn là một trong những điểm yếu phổ biến hiện nay trong thực tiễn bảo đảm an ninh dữ liệu.

Chính sách phát triển hạ tầng, công nghệ và nguồn nhân lực

Dự thảo Luật An ninh dữ liệu quy định chính sách của Nhà nước nhằm thúc đẩy phát triển hạ tầng, công nghệ và nguồn nhân lực về an ninh dữ liệu, gắn kết chặt chẽ với mục tiêu an ninh. 

Nhà nước có chính sách ưu tiên phát triển điện toán đám mây chủ quyền, hạ tầng dữ liệu, trung tâm dữ liệu an toàn, xanh, có khả năng chống chịu, phục hồi; áp dụng chính sách ưu đãi về đầu tư, thuế đối với hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ bảo vệ an ninh dữ liệu, mật mã an ninh, mật mã kháng lượng tử; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo nâng cao năng lực bảo vệ an ninh dữ liệu bằng công cụ tự đánh giá, hướng dẫn, đào tạo và dịch vụ dùng chung. 

Đồng thời, dự thảo quy định nguyên tắc không được áp dụng biện pháp tạo vị trí độc quyền cho một sản phẩm, một nhà cung cấp cụ thể, bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng trong quá trình hình thành hệ sinh thái công nghiệp an ninh dữ liệu trong nước.

Những nội dung cốt lõi nêu trên cho thấy dự thảo Luật An ninh dữ liệu được thiết kế theo hướng vừa bảo đảm chặt chẽ về an ninh, chủ quyền dữ liệu quốc gia, vừa hạn chế tối đa tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, tạo nền tảng pháp lý để phát triển kinh tế dữ liệu, kinh tế số trong giai đoạn tới.

Tin liên quan

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bình luận không đăng nhập

Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.