Thực tế triển khai chưa đạt kỳ vọng
Năm 2026 được xác định là năm bản lề cho giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội mới. Trong kế hoạch tài chính quốc gia, các Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) đóng vai trò là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển tại các địa bàn khó khăn, từ vùng sâu vùng xa, biên giới hải đảo đến những cộng đồng yếu thế. Với tổng dự toán ngân sách Trung ương lên tới 35.000 tỷ đồng (bao gồm 25.000 tỷ đồng vốn đầu tư công và 10.000 tỷ đồng kinh phí thường xuyên), kỳ vọng về việc thay đổi diện mạo nông thôn và nâng cao đời sống dân sinh là rất lớn.

Các Chương trình mục tiêu quốc gia mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
Dù nguồn lực tài chính 35.000 tỷ đồng đã được phê duyệt và sẵn sàng phân bổ, nhưng thực tế giải ngân vốn các Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) trong quý I/2026 đang cho thấy tình trạng chậm trễ do chờ đợi cơ chế. Để đảm bảo tiến độ các mục tiêu an sinh trọng yếu, việc tháo gỡ các vướng mắc pháp lý đang được Bộ Tài chính phối hợp cùng các bộ, ngành khẩn trương thực hiện.
Tuy nhiên, báo cáo kết thúc quý I/2026 từ Bộ Tài chính cho thấy những con số cần phải lưu ý. Tính đến hết ngày 31/3/2026, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công mới chỉ đạt 4,9% kế hoạch, trong khi kinh phí thường xuyên đạt mức 4,0%.
Trước thực tế nguồn vốn đã sẵn sàng và nhu cầu từ địa phương rất lớn nhưng dòng vốn vẫn chuyển dịch chậm, đa số ý kiến chuyên gia và nhà quản lý đều nhận định nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ các rào cản thể chế.
Những vướng mắc trong khâu chuẩn bị pháp lý
Bức tranh triển khai 5 chương trình mục tiêu quốc gia trọng điểm trong quý I/2026 đang cho thấy một sự phân hóa rõ rệt, bộc lộ những điểm chưa đồng bộ trong khâu chuẩn bị hành lang pháp lý đầu vào. Trong khi một số lĩnh vực đã cơ bản hoàn thiện thủ tục, phần lớn các chương trình còn lại vẫn đang gặp khó khăn về quy trình.
Điểm sáng trong quý đầu năm thuộc về hai chương trình: Phòng, chống ma túy và Phát triển văn hóa. Nhờ sự chủ động trong việc hoàn thiện sớm hành lang pháp lý và các nguyên tắc phân bổ vốn, hai lĩnh vực này đã tạo được đà thuận lợi để các địa phương sớm tiếp nhận nguồn lực, triển khai dự án ngay từ đầu năm. Đây được xem là kinh nghiệm quý về sự chuẩn bị, giúp chuyển hóa nguồn lực tài chính thành những công việc cụ thể trên thực địa.
Trái ngược với kết quả nêu trên, 3 chương trình trọng điểm còn lại, bao gồm: Nông thôn mới; Giảm nghèo bền vững và Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số; Chăm sóc sức khỏe và Hiện đại hóa giáo dục vẫn đang hoàn thiện các thủ tục liên quan. Những nguyên nhân dẫn đến sự chậm trễ này chủ yếu do các quy định chồng chéo chưa được xử lý dứt điểm, gây ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác nguồn lực quốc gia.
Đáng lưu ý là tình trạng thiếu thống nhất trong các định mức, tiêu chí phân bổ vốn chưa được ban hành đồng bộ. Điều này trực tiếp gây khó khăn cho các bộ, ngành và địa phương trong việc lập phương án sử dụng ngân sách. Bên cạnh đó, việc chậm trễ trong khâu phê duyệt đầu tư khiến nhiều dự án thành phần vẫn đang trong giai đoạn thẩm định, chưa đủ điều kiện pháp lý để giải ngân vốn.
Các chuyên gia nhận định về "độ trễ chính sách" khi dự báo phải đến quý II/2026, các lĩnh vực y tế và giáo dục mới có thể hoàn tất cơ sở pháp lý cần thiết. Hệ quả là công tác triển khai các mục tiêu an sinh xã hội đã chưa tận dụng được thời gian quý đầu năm - thời điểm thuận lợi để khởi động các công trình xây dựng. Việc chậm trễ này tạo áp lực lớn cho các quý còn lại và tác động đến tính kịp thời của các chính sách an sinh.
Giải pháp "6 rõ" và yêu cầu về tư duy quản trị
Nhận diện rõ các khó khăn, Bộ Tài chính đã chủ động tăng cường vai trò điều phối và tháo gỡ vướng mắc giữa các đơn vị liên quan. Cuộc họp liên bộ ngày 30/3/2026 là một dấu mốc quan trọng để xác định lộ trình hoàn thiện các văn bản hướng dẫn. Việc trình Chính phủ ban hành Nghị định số 358/2025/NĐ-CP được xem là giải pháp cần thiết nhằm chuẩn hóa lại cơ chế quản lý và tổ chức thực hiện các CTMTQG một cách khoa học hơn.

Mỗi đồng vốn chậm giải ngân đồng nghĩa với việc các công trình dân sinh, trạm y tế hay cơ hội thoát nghèo của người dân bị chậm lại.
Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi vẫn nằm ở tính đồng bộ. Nếu các quy định về quản lý tài chính đã hoàn thiện nhưng các bộ chủ quản chưa kịp thời ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật, thì dòng vốn vẫn sẽ gặp trở ngại trước khi đến được thực địa.
Khi tỷ lệ giải ngân quý I ở mức thấp, áp lực cho thời gian còn lại của năm là rất lớn. Hệ thống quản lý sẽ phải xử lý một khối lượng công việc và nguồn vốn gấp nhiều lần so với giai đoạn đầu năm. Điều này đòi hỏi sự kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo cả về tiến độ lẫn chất lượng công trình và hiệu quả sử dụng vốn. Cần tránh tình trạng tập trung giải ngân dồn dập vào cuối năm dẫn đến rủi ro về chất lượng và lãng phí nguồn lực.
Các Chương trình mục tiêu quốc gia mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Mỗi đồng vốn chậm giải ngân đồng nghĩa với việc các công trình dân sinh, trạm y tế hay cơ hội thoát nghèo của người dân bị chậm lại. Do đó, tháo gỡ nút thắt thể chế chính là yếu tố quyết định để dòng vốn 35.000 tỷ đồng phát huy hiệu quả, thúc đẩy kinh tế - xã hội Việt Nam phát triển bền vững trong giai đoạn tới.
Để khơi thông nguồn vốn, Bộ Tài chính đã đề xuất thực hiện nghiêm túc nguyên tắc "6 rõ": Rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian và rõ kết quả. Đây được xem là giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao trách nhiệm thực thi công vụ và thiết lập kỷ cương trong quản lý các chương trình mục tiêu quốc gia.
Một trong những thay đổi quan trọng là việc xác định rõ trách nhiệm của các bộ chủ quản chương trình. Theo đó, việc chậm ban hành cơ chế, chính sách cần được xem xét như một hạn chế trong công tác điều hành. Các chuyên gia nhấn mạnh cần có hình thức nhắc nhở, xử lý đối với những đơn vị để xảy ra tình trạng chậm trễ kéo dài trong khâu xây dựng định mức và tiêu chí phân bổ vốn.
Song song đó, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giám sát đầu tư là giải pháp then chốt. Khi toàn bộ quy trình từ lập kế hoạch đến quyết toán được hiển thị minh bạch trên hệ thống dữ liệu dùng chung, các vướng mắc sẽ được nhận diện ngay lập tức, giúp cấp quản lý xử lý kịp thời thay vì phụ thuộc vào các báo cáo định kỳ truyền thống.
Để tháo gỡ khó khăn tại cơ sở, yêu cầu cấp thiết là đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương. Thay vì cơ chế kiểm soát quá chi tiết, cần trao quyền chủ động nhiều hơn cho các địa phương trong việc lựa chọn danh mục dự án sát với thực tế địa bàn, dựa trên khung chính sách chung. Trong mô hình này, các cơ quan Trung ương chuyển dịch vai trò sang định hướng chính sách và tăng cường công tác hậu kiểm./.
Bình luận (0)