Đạo diễn Trần Cẩm: "Tôi đã sờ vào dấu chân của lịch sử"

“Được làm phim tài liệu với tôi là một hạnh phúc, như người ta được viết truyện bằng hình ảnh…” - Đạo diễn, NSƯT Trần Cẩm.

Đạo diễn, NSƯT Trần Cẩm là Phó trưởng phòng Phòng Phim tài liệu, Trung tâm phim tài liệu và phóng sự Đài THVN. Ông cũng là đạo diễn của nhiều những bộ phim tài liệu được khán giả yêu thích và quan tâm như “Người bạn thầm lặng của Bác” – phim đã nhận giải phim tài liệu video xuất sắc nhất Cánh diều vàng 2008, “Hoa của thép” - giải A báo chí quốc gia năm 2006… và nhiều những bộ phim tài liệu khác được phát sóng trên Đài THVN. Cho đến nay, với hơn 20 năm làm phim tài liệu và tài sản là hơn 100 bộ phim - những bộ phim mà như đạo diễn Trần Cẩm tâm sự, ông biết nó sẽ sống mãi với thời gian, sẽ đi mãi với 2 cuộc kháng chiến của đất nước và đi mãi với những thành công, những câu chuyện vui buồn của rất nhiều những nhân vật và sự kiện.
Chào đạo diễn Trần Cẩm! Điều gì đã khiến ông bị hấp dẫn với mảng phim tài liệu như vậy?
- Năm tháng sẽ trôi đi và sản phẩm mình để lại sống mãi với thời gian chính là phim tài liệu. Do đó, ở Đài THVN mỗi người một mảng, có người chọn vui chơi, có người chọn tin tức và có người thì chọn làm showgame và mảng phim tài liệu bị chìm vào phía sau. Tất cả những gì mình làm không phải ngay bây giờ mọi người biết đến nhưng nó sống một thời gian rất dài nếu như mình làm được một bộ phim tốt, mình có một tác phẩm tử tế. Do đó mình có một niềm say mê, mình đã được viết những câu chuyện bằng hình ảnh cho lịch sử hôm nay và mai sau. Mình cảm thấy may mắn được gắn bó với mảng phim tài liệu của VTV.
Đối với đạo diễn, những khó khăn khi làm phim tài liệu là gì?
- Làm phim tài liệu tính độc lập rất cao, không phụ thuộc vào ai được. Đài THVN là một tờ báo hình, người làm phim tài liệu phải bám lấy sự kiện và bị sức ép của giờ lên sóng, do đó phải biết làm tất cả mọi việc - viết kịch bản, lời bình, dựng… Nhưng đấy cũng là lợi thế vì mình sẽ làm được những gì mình muốn.
Nhiều người cho rằng giá trị của những bộ phim tài liệu là điều không ai có thể phủ nhận – chúng trường tồn với thời gian nhưng không có sự hấp dẫn khiến người xem muốn xem đi xem lại nhiều lần. Ở phương diện người làm phim tài liệu, ông nhìn nhận giá trị của những bộ phim tài liệu như thế nào?
- Vấn đề chính là chúng ta kể câu chuyện thế nào, giản dị và chân thật nhất và câu chuyện nó có sống được không bởi vì khi ta xem một bài báo cái gì mới lạ ta sẽ xem. Ta xem một cuốn sách cái gì hấp dẫn sẽ thu hút và chính người nào nắm bắt cái bí quyết đó sẽ có bộ phim tài liệu ngay từ lần phát sóng đầu tiên đã rất đông người xem chứ không cần phải xem đến nhiều lần. Do đó, trách nhiệm của người làm phim tài liệu là hãy kể câu chuyện đơn giản nhất bằng hình ảnh sao cho súc tích, hấp dẫn để người xem người ta thấy hấp dẫn.
Thế nhưng cũng có nhiều ý kiến rằng phim tài liệu Việt Nam không hấp dẫn bằng phim tài liệu nước ngoài, dù lý do không phải chúng ta thiếu nguồn tư liệu?
- Mỗi quốc gia có một nền văn hoá khác nhau, mỗi dân tộc có một buớc thăng trầm khác nhau và cho đến giờ tôi xem phim tài liệu tôi thấy phim tài liệu Việt Nam không thua kém phim tài liệu bất cứ quốc gia nào. Chúng ta đã có những phim tài liệu như của anh Lê Mạnh Thích, như của anh Trần Minh Thuỷ, anh Đào Trọng Khánh, anh Bùi Đình Hạc so với thế giới có thua gì đâu? Và ở thế hệ chúng tôi thì đã đóng góp cho đất nước rất nhiều phim tài liệu được nhân dân ngưỡng mộ. Vấn đề là thời gian và trách nhiệm của mỗi người làm phim tài liệu làm sao để có những phim hay hơn nữa, hấp dẫn hơn nữa.
“Khi chiến tranh đã đi qua” là bộ phim mới được phát sóng trên Đài THVN vào dịp 30/4. Được biết đã có một câu chuyện ở phía sau về việc đưa bộ phim này tới với khán giả. Ông có thể chia sẻ một chút?
- “Khi chiến tranh đã đi qua” là phim của đạo diễn Barbara và đã được Viện hàn lâm điện ảnh Mỹ đề cử 2 giải Oscar. Đó là bộ phim tài liệu về thân phận của những người phụ nữ từ 2 phía của chiến tranh - một cái nhìn đầy nhân ái và cảm động. Bản thân tôi là người được tiếp cận với đạo diễn Barbara vào năm 2000 - lúc đó Barbara cùng chồng sang để gặp lại những nhân chứng đã tham gia bộ phim để cảm ơn họ và chiếu phim cho họ xem. Tôi nhớ lúc ấy tôi và chị Vũ Thị Gái ở chương trình Lao động Công đoàn gặp họ ở trong Quảng Ngãi và Đà Nẵng. Khi bọn tôi đưa bộ phim ấy về đài THVN thì được sự đồng ý của đạo diễn nhưng do thời lượng quá dài, 73’, mà lúc ấy khung giờ không cho phép, cho nên cắt đi 50’ thì đạo diễn không đồng ý. Thời gian trôi đi và chị Gái nhận số băng ấy thì nghỉ hưu, rồi đem số băng ấy về để trong tủ thì bị ẩm mốc mục hết.
Gần Tết nguyên đán vừa rồi tôi mới nghĩ nếu bộ phim này không được chiếu thì thật đáng tiếc và tôi đã tìm chị Gái và lấy được tất cả các cuộn băng nhưng tiếc là cũ quá và nó đã bị mục gần hết. Trong 4 cuốn băng đó cố gắng dở ra tua và 4 cuốn ghép lại thành 1 thì vẫn được một bộ phim hoàn chỉnh và sau đó bọn tôi chỉnh sửa dịch. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng liên hệ với phía Mỹ để xin phép phát sóng miễn phí bộ phim. Sau khi hòa âm lồng tiếng để có đầy đủ các điều kiện kỹ thuật, “Khi chiến tranh đã đi qua” đã được phát sóng đúng vào dịp 30/4 - 35 năm giải phóng miền Nam. Điều bất ngờ là khán giả xem rất đông và có nhiều phản hồi lại cho chúng tôi. Điều này khiến tôi rất hạnh phúc vì đã làm được một việc nhỏ là cố gắng nhặt nhạnh những cái của 10 năm mình theo đuổi, mình hiểu và đưa nó lên sóng.
Lý do gì mà ông theo đuổi bộ phim này trong nhiều năm như thế?
- Nước mắt của những người phụ nữ, nỗi đau của những người mẹ Mỹ Lai, nỗi buồn của những người phụ nữ Mỹ mất chồng, nỗi cô đơn của những người đàn bà miền Nam Việt Nam... bộ phim là bản án tố cáo cuộc chiến tranh của Mỹ đối với Việt Nam đầy đủ nhất. Do đó bộ phim ấn tượng với tôi suốt 10 năm và tôi cảm thấy nếu mình không đưa ra mình có lỗi.
Xin chuyển sang những bộ phim về Bác. Ông là một đạo diễn làm rất nhiều phim tài liệu về Bác, vậy cái khó khi làm những bộ phim tài liệu về Người là gì?
- Làm phim tài liệu về Bác không hề dễ tí nào cả bởi vì câu chuyện lịch sử đã lùi xa và các tư liệu gần như mọi người cũng đã khai thác hết rồi. Tôi nghĩ, hình như Bác cũng có dành một chút tình cảm gì đấy cho mình hay sao mà mình gặp được toàn những câu chuyện mà gần như không ai được làm cả.
Điều gì khiến ông bị hấp dẫn về cuộc đời của Người như vậy?
- Tôi là người được lớn lên trong mái trường XHCN, đã tham gia cầm súng đi bảo vệ Tổ quốc. Thế hệ chúng tôi chưa một lần gặp Bác, chưa một lần được đến gần Bác nhưng tình cảm và những việc làm của Bác cho đất nước nó ngấm vào con người tôi và được làm những bộ phim về cuộc đời Người là một vinh dự, may mắn và hạnh phúc.
Vậy chắc hẳn trong quá trình thực hiện, ông đã có rất nhiều kỷ niệm khi làm phim về Bác?
- Vâng, rất nhiều. Tôi nhớ cuối tháng 4/2007 tôi được Đài cử đi Pháp để làm bộ phim về những nhân sĩ trí thức đã biết Hồ Chí Minh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, thời gian sang Pháp chỉ có 7 ngày thôi và sau 3 ngày thì chúng tôi hoàn thành bộ phim, thời gian còn lại là 4 ngày cả đoàn quyết định sẽ đi chơi thủ đô Pháp hoặc Ý, Hà Lan nhưng khi chúng tôi phỏng vấn ông Aubrak thì tôi phát hiện ra một điều gì đó khi ông ấy nói với tôi: “Tôi gặp người VN các anh hàng trăm lần rồi, còn chuyện gì các anh chưa biết mà hỏi tôi?”. Lời trách móc nhẹ nhàng ấy khiến tôi cảm thấy có điều gì đó không bình thường. Vì vậy, ngày hôm sau tôi và biên tập viên Hồng Quang tiếng Pháp của V4 cùng quay phim Thọ quyết định quay lại chỗ cụ Aubrak.
Khi chúng tôi đến vào đúng ngày chiến thắng phát xít và cụ chuẩn bị đi tham gia lễ kỷ niệm. Cụ có vẻ không vui khi bị chúng tôi làm phiền vào đúng ngày này, nhưng cuối cùng cụ cũng đồng ý dành cho chúng tôi 1 giờ trò chuyện. Và cụ đã kể câu chuyện đi tàu hoả mất 10 ngày từ Trung Quốc sang VN và từ VN về TQ để có 5’ thương thảo hiệp định thương mại cho VN, rồi kể câu chuyện sang gặp Bác Hồ lần cuối năm 1967 và lần gặp này đã có tác động đến Aubrak để Aubrak sau này làm 3 việc mà tôi làm trong phim khiến mọi người ngỡ ngàng: 1 là thông qua toà án Patican để ngăn người Mỹ ném bom xuống đê sông Hồng. Điều thứ 2 là khi hoà bình lặp lại Aubrak đã gặp Mac Namara để lấy bản đồ bom mìn từ tay Mac Namara để chuyển cho VN để tháo dỡ bom mìn ở vĩ tuyến 17 và sông biển VN. Và 3 là Aubrak đã giúp VN toàn bộ cây con vật nuôi để bây giờ viện công nghệ VN có đầy đủ tài liệu để xây dựng cầu đường, vật nuôi, cây trồng phát triển đất nước. Tất cả những điều Aubrak làm cho VN đến giờ không ai biết. Khi tôi làm bộ phim ấy – “Người bạn thầm lặng của Bác”- xong thì tôi có báo cho Bộ ngoại giao và Bộ ngoại giao yêu cầu chiếu xem và được báo đến chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và vào ngày Quốc khánh nước CHXHCNVN cách đây 3 năm thì cụ cùng con gái được mời sang làm thượng khách của VN. Năm nay là 35 năm giải phóng miền Nam và 120 năm ngày sinh của Hồ chủ tịch thì cụ lại đuợc mời sang lần 2.
“Người bạn thầm lặng của Bác” đã được ra đời như vậy – hoàn toàn ngẫu nhiên và không có sự chuẩn bị trước. Tôi cũng nhớ trong chuyến đi ấy, khi lần đầu nhìn những bức ảnh của Bác do cụ Aubrak chụp tôi đã rất xúc động. Xúc động vì mình đã tiếp cận được một kho tài liệu quý mà chưa ai động đến. Khi nghe cụ kể chuyện, khi đọc thuyết minh trong phòng dựng, tôi biết tôi đã sờ vào dấu chân của lịch sử. Cũng giống như với bộ phim “Những vần thơ khóc Bác” tôi tình cờ thực hiện khi đến thăm chùa Thanh Thuỷ, Nhật Bản. Tôi đã gặp một người sư rất bình thường nói cho tôi nghe về bài thơ của sư cụ trụ chì chưa một lần gặp Hồ Chí Minh. Năm ấy Hồ Chí Minh mất là năm 69 thì cụ 96 tuổi và vì cảm động trước nhân cách của Bác cụ đã viết bài thơ để khóc Bác Hồ. Khi được nhìn bài thơ ấy trên tờ giấy photo màu tôi rất cảm động và tôi đã làm thành bộ phim “Những vần thơ khóc Bác” phát đúng vào ngày 2/9/2009.
Ông đã nhận giải A cho phim “Hoa của thép” trong giải báo chí quốc gia năm 2006, nhận giải Phim tài liệu video xuất sắc nhất 2008 cho phim “Người bạn thầm lặng của Bác”. Những giải thưởng có ý nghĩa như thế nào đối với ông?
- Đấy là điều rất hạnh phúc với người làm phim vì không dễ gì một lúc đoạt được 2 giải đó, nhưng phần thưởng lớn hơn và tôi luôn luôn ý thức với người làm nghề là phần thưởng trong lòng khán giả và phần thưởng trong lòng đồng nghiệp.
Mong muốn lớn nhất hiện nay của ông là gì? – trong công việc cũng như trong làm phim tài liệu?
- Đến giờ này tuổi đời là chín và tuổi nghề là chín và sức khoẻ đang rất tốt, phông văn hoá và nghiền ngẫm cuộc sống suốt ngần ấy năm đã đủ để làm tất cả những điều mà mình muốn làm cùng với điều kiện kỹ thuật mà không phải đạo diễn nào cũng được có. Tất cả những yếu tố ấy với sự thuận lợi là gia đình tạo điều kiện, mình nghĩ là sẽ làm được rất nhiều điều nữa để đóng góp cho cuộc sống cũng như đóng góp thêm một viên gạch xây nên cái nhà của truyền hình VN VTV càng ngày càng đẹp hơn, để mọi người đón chào và đuợc xem những bộ phim tài liệu của mình cũng như các đồng nghiệp của mình chiếu trên sóng.
Vậy trong suốt 20 năm làm phim tài liệu cho đến thời điểm hiện tại, điều gì khiến ông hài lòng nhất?
- Suốt cuộc đời theo đuổi đối với nghiệp phim tài liều thì cho đến bây giờ điều tôi hài lòng nhất là mình muốn làm cái gì thì mình được làm cái ấy. Tức là người nghệ sĩ, người sáng tác nhìn thấy cần phải làm để cho Đài hoặc cho thời gian năm tháng đất nước thì đều được Đài ủng hộ, được cơ quan ủng hộ, được trung tâm ủng hộ để mình sáng tác, chỉ là mình có đủ sức hay không và có đam mê hay không và có yêu nó hay không.
Và điều ông cảm thấy mình thực sự thành công?
- Thành công thì mình so với các bậc đàn anh mình chả là cái gì cả, so với đồng nghiệp thì mình chỉ như hạt cát rất nhỏ và mình nghĩ mình là một viên gạch nhỏ trong ngôi nhà của đài THVN, mình cố gắng làm tốt vị trí của mình để cho cả một cỗ máy chạy trơn chu và cùng với thời gian năm tháng trôi đi lớn lên từng ngày với truyền hình.
Cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bình luận không đăng nhập

Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.