Khoảng 80% phải huy động ngoài ngân sách
Mới đây, Quốc hội đã thông qua mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số cho giai đoạn 2026-2030. Đây được xem là mục tiêu đầy thách thức trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế thế giới. Đặc biệt, mục tiêu tăng trưởng hai con số cũng đặt ra bài toán rất lớn về huy động nguồn lực cho nền kinh tế.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, nguồn lực đầu tư trong giai đoạn 2026-2030 cho mục tiêu tăng trưởng hai con số là khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Con số này tương đương với 40% GDP, tăng 1,7 lần so với giai đoạn trước (2021-2025).
Trong đó, vốn đầu tư phát triển khu vực Nhà nước là 8,5 triệu tỷ đồng (chiếm 22% tổng vốn đầu tư toàn xã hội); vốn FDI thực hiện khoảng 4,8 triệu tỷ đồng; còn lại khoảng 25,5 triệu tỷ đồng là vốn tự có của doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, vốn huy động từ thị trường trong nước, nước ngoài…

Mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số giai đoạn 2026-2030 đòi hỏi khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư.
Về giải pháp nguồn lực cho tăng trưởng, ông Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương nhấn mạnh tầm quan trọng phải xây dựng để thể chế phát triển nhanh, bền vững trong các lĩnh vực. Đặc biệt là chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV: “Nhà nước cần chuyển dịch từ vai trò là nhà đầu tư trực tiếp sang vai trò thiết kế, tạo ra môi trường để mọi nguồn lực trong xã hội được huy động và phân bổ theo tín hiệu của thị trường dưới khuôn khổ thể chế minh bạch, ổn định”.
Theo Phó Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, chỉ đạo này đã thay đổi căn bản cách tiếp cận từ tăng trưởng truyền thống, tức dựa vào ngân sách Nhà nước, dựa vào đầu tư công và đất đai, sang Nhà nước phải kiến tạo, dẫn dắt và kích hoạt các nguồn lực trong xã hội.
Giảm phụ thuộc tín dụng, cân lại dòng vốn
Phân tích về nguồn lực cho tăng trưởng, GS.TS Hoàng Văn Cường cho biết, tăng trưởng là hệ số kết quả của đầu tư cộng với các yếu tố như công nghệ, lao động... Muốn tăng trưởng cao thì không thể không tăng đầu tư, đây là một trong các yếu tố then chốt quyết định tốc độ tăng trưởng.
“Nhiều năm qua, tăng trưởng kinh tế Việt Nam phụ thuộc lớn vào tăng đầu tư vốn. Chúng ta đang dịch chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên công nghệ, đổi mới sáng tạo nhưng quá trình này không thể một sớm một chiều. Giai đoạn chuyển tiếp này vẫn phải đầu tư nhiều vốn để làm tiền đề”, ông Cường phân tích.

Thống kê cho thấy, đến cuối năm 2025, quy mô tín dụng ngân hàng tương đương khoảng 145% GDP.
Về cơ cấu kênh dẫn vốn cho nền kinh tế, GS.TS Hoàng Văn Cường cho biết, nền kinh tế đang phụ thuộc khá lớn vào nguồn vốn của tín dụng ngân hàng. Thống kê cho thấy, đến cuối năm 2025, quy mô tín dụng ngân hàng tương đương khoảng 145% GDP. Đây không thể là kênh dẫn vốn làm trụ cột mãi cho nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao. Chúng ta cần huy động nguồn lực cho tăng trưởng dựa vào thị trường vốn dài hạn, thị trường trái phiếu và cổ phiếu. Đây là những thị trường có khả năng huy động từ những nguồn vốn nhỏ lẻ, ngắn hạn chuyển thành những nguồn vốn đầu tư dài hạn.
Cũng theo GS.TS Hoàng Văn Cường, hợp tác công tư PPP là kênh dẫn vốn quan trọng tiếp theo. Với phương thức hợp tác công tư PPP, Nhà nước không sử dụng quá nhiều vốn mà sử dụng chính nguồn lực tư nhân vào đầu tư các hạng mục công trình. Để tăng hiệu quả kênh dẫn vốn này phải tính đến yếu tố tạo ra khuôn khổ pháp lý có sức hút. “Chúng ta có Luật đầu tư PPP nhưng cơ chế chia rẻ rủi ro chưa được thực thi một cách triệt để, chưa đảm bảo lợi ích cho các nhà đầu tư nên độ hấp dẫn chưa cao”, ông Cường cho biết.
Ngoài ra, thu hút vốn FDI cũng là kênh dẫn vốn rất hiệu quả cho tăng trưởng. Nếu thu hút tốt nguồn vốn FDI thế hệ mới sẽ không chỉ có được vốn mà còn có công nghệ mới tại các lĩnh vực chúng ta đang ưu tiên đầu tư như AI, chip bán dẫn…
Chi tiết hơn về lời giải cho bài toán nguồn lực tăng trưởng, bà Nguyễn Thúy Hạnh, Tổng Giám đốc Standard Chartered Việt Nam cho rằng, Việt Nam cần nhìn bài toán nguồn lực theo hai cấu phần chính: vốn chủ sở hữu (equity) và vốn nợ (debt). Nhu cầu vốn cho giai đoạn tới là khoảng 38 triệu tỷ đồng, trong khi nguồn từ Nhà nước chỉ chiếm khoảng 8,5 triệu tỷ đồng.
Phần còn lại buộc phải được huy động từ khu vực tư nhân, thị trường vốn và các nguồn lực quốc tế. Với vốn chủ sở hữu, cần đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn Nhà nước, đồng thời thúc đẩy tái cấu trúc doanh nghiệp gắn với thị trường chứng khoán để tạo thêm hàng hóa chất lượng cho thị trường.

Việt Nam cần thu hút mạnh hơn FDI thông qua các quỹ đầu tư tư nhân, hướng tới các nhà đầu tư lớn, dài hạn.
Song song với đó, Việt Nam cần thu hút mạnh hơn FDI thông qua các quỹ đầu tư tư nhân, hướng tới các nhà đầu tư lớn, dài hạn. Việc thị trường chứng khoán được mục tiêu nâng hạng cũng sẽ mở thêm dư địa cho dòng vốn đầu tư gián tiếp quốc tế.
Một nguồn lực rất quan trọng khác là vốn trong dân cư, kể cả các tài sản đang nằm trong vàng. Nếu khơi thông tốt nguồn lực này, khu vực kinh tế tư nhân sẽ có thêm dư địa phát triển rất lớn.
“Muốn đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030, Việt Nam không chỉ cần nhiều vốn hơn, mà quan trọng hơn là phải thiết kế lại cấu trúc vốn theo hướng cân bằng giữa vốn nợ và vốn chủ sở hữu và các nguồn lực trong dân cư, quốc tế”, bà Nguyễn Thúy Hạnh nêu quan điểm.
Con số 38,5 triệu tỷ đồng không chỉ là một mục tiêu định lượng, mà chính là bài kiểm tra bản lĩnh cho nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới. Để huy động thành công nguồn lực khổng lồ này, chúng ta không thể chỉ dựa vào những kênh dẫn vốn truyền thống, mà còn cần một cuộc cách mạng thực sự về thể chế để khơi thông dòng chảy tài chính từ xã hội. Chỉ khi biến được áp lực từ con số này thành động lực cải cách thị trường vốn sâu rộng, mục tiêu tăng trưởng hai con số mới có thể trở thành hiện thực bền vững.
Tăng hiệu quả trên mỗi đồng vốn
Trong một góc nhìn khác, ông Dương Thanh Tùng, Phó Tổng Giám đốc, Dịch vụ Tư vấn chiến lược, rủi ro và giao dịch của Deloitte Việt Nam cho rằng, từ khóa được nhận diện là thách thức và nhiên liệu cho đất nước tăng tốc là "vốn". Song vấn đề không nằm ở "thiếu quy mô vốn", thay vào đó, vướng mắc được nhận diện là "thiếu cấu trúc phù hợp để hấp thụ vốn".

Ảnh minh họa
Đại diện Deloitte chỉ ra 3 điểm then chốt: Thứ nhất, vốn dài hạn gắn liền với năng lực tạo dòng tiền bền vững, không phụ thuộc vào biến động ngắn hạn. Thứ hai, các nguồn vốn tư nhân là chủ đạo cho vốn dài hạn, thông qua mua cổ phần chiến lược, công cụ nợ, hợp nhất, tái cấu trúc - đặc biệt ở các lĩnh vực tài chính, năng lượng, hạ tầng, tiêu dùng và công nghệ. Thứ ba, nhà đầu tư vốn dài hạn luôn đòi hỏi "cửa ra" đáng tin cậy cho các khoản đầu tư như IPO, chuyển nhượng hoặc tái tài trợ cho nhà đầu tư khác hoặc tái cấu trúc qua thị trường vốn.
"Dù có nhiều cơ hội đầu tư tốt, Việt Nam lại đang sở hữu điểm nghẽn lớn là việc thiếu một hệ sinh thái thị trường vốn đủ sâu, đủ tin cậy để nâng định giá và kéo dài kỳ hạn vốn", ông Dương Thanh Tùng cho biết.
Với ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch HĐQT FiinGroup, câu hỏi lớn nhất hôm nay không còn là "làm sao huy động thêm vốn", mà là "làm sao mỗi đồng vốn tạo ra nhiều giá trị hơn" và câu trả lời sẽ quyết định vị thế của các tập đoàn kinh tế Việt.
Bình luận (0)