Tín dụng tăng trưởng đã mang lại lợi nhuận cho các ngân hàng. Báo cáo kết quả kinh doanh quý I của 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, lợi nhuận sau thuế đã tăng khoảng 25%. Tuy nhiên, khi tín dụng tăng cao, các ngân hàng cũng phải đối mặt với thách thức về rủi ro nợ xấu.
Dữ liệu thống kê từ Wigroup cho thấy, tỷ lệ nợ xấu sau khi giảm xuống 1,8% vào cuối năm ngoái đã bắt đầu nhích tăng trở lại vào quý I và quý II năm nay, lên 2,02%.
Trong khi đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu bình quân của các ngân hàng có xu hướng thu hẹp lại. Từ mức 82% của cuối năm ngoái, đã giảm về 80% vào quý I và 78,4% vào quý II. Con số này có nghĩa là nếu như các ngân hàng có 100 đồng nợ xấu, họ đã dành ra hơn 78 đồng để dự phòng cho trường hợp rủi ro mất vốn.
Đó là mức bình quân của hệ thống, nhưng có một số ngân hàng, tỷ lệ bao phủ đã vượt cả số nợ xấu, như Vietcombank lên đến 279%. Hay VietinBank là 133% và Techcombank cũng bao phủ được hơn 125%. Đây được xem là bộ đệm dự phòng quan trọng, những ngân hàng có bộ đệm càng lớn, cho thấy chất lượng quản lý tài sản càng hiệu quả.
Những dữ liệu trên cho thấy nợ xấu có sự phân hóa lớn giữa các nhóm ngân hàng lớn và nhỏ, đòi hỏi các ngân hàng phải tăng cường các biện pháp ngăn ngừa, xử lý nợ xấu.
Nợ quá hạn tại nhiều ngân hàng tăng cao do những biến động từ kinh tế thế giới đã tác động tới hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ xấu đã vượt ngưỡng 3%, theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, tại 5 trong tổng số 27 ngân hàng niêm yết. Gần một nửa trong số đó vẫn duy trì nợ xấu ở ngưỡng trên dưới 1%, cho thấy nỗ lực của các ngân hàng trong việc xử lý nợ xấu.
Để ngăn rủi ro nợ quá hạn, đòi hỏi các ngân hàng phải kiểm soát chất lượng khoản vay ngay từ khi xét duyệt hồ sơ. Đặc biệt là hạn chế đưa vốn vào các lĩnh vực rủi ro. Chỉ khi dòng tín dụng hướng tới những lĩnh vực sản xuất kinh doanh thực chất và các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, dòng tiền mới quay lại hệ thống ngân hàng.
Cho vay luôn đi kèm với rủi ro nợ xấu. Vì vậy, các chuyên gia nhấn mạnh, yêu cầu đặt ra là phải nhận diện rủi ro sớm hơn, chủ động cơ cấu và hỗ trợ doanh nghiệp có khả năng phục hồi. Đồng thời, các ngân hàng phải dự phòng đủ nguồn lực để giải quyết những tổn thất nếu xảy ra.
Bình luận (0)